BBTB
Sách nguồn

Bát Tự Không Cân Bằng

Hoàng Mạnh Trung (2021) · toàn văn 21 chương — nguồn cho các chương học

Mục lục — 21 chương

Chương 1 — Cân Bằng và Không Cân Bằng

trong xu hướng vận mệnh Cân bằng và không cân bằng giống như Âm và Dương, đối lập và thống nhất với nhau trong mọi tồn tại cuộc sống. Trong Dịch lý cả hai mặt này đều quan trọng như nhau, cân bằng tạm thời của tổng thể trong khi vẫn mất cân bằng trong từng bộ phận. Cân bằng tương đối để duy trì trật tự và mất cân bằng để phát triển, để thích ứng với một trật tự khác. Đây là hai quá trình song song cùng tồn tại trong xu hướng phát triển của vạn vật, được Dịch lý thể hiện qua sự biến động của các hào âm dương và tỷ lệ tứ tượng xuất hiện trong phép bói cỏ thi. Các nhà phát triển Bát tự Tử Bình rất hiểu điều này, và Bát tự Tử Bình xây dựng dựa trên sự kết nối chặt chẽ với nền tảng của bộ môn là Dịch lý, là âm dương. Tử Bình luôn vừa cố gắng khai thác lý thuyết về cân bằng lại vừa vận dụng lý thuyết về mất cân bằng và đạt được nhiều thành công trong việc mô tả xu hướng số phận, hình ảnh một con người, từ đó tồn tại và phát triển đến ngày nay. Nhưng về sau, các thuyết nền tảng được nhiều người coi như là tiền đề chứ không đi sâu tìm hiểu lại những thứ làm nên chúng, dẫn đến một số hiểu sai có hệ thống về âm dương nói chung, ảnh hưởng tới phương pháp luận Bát tự Tử Bình nói riêng. Bát tự Tử Bình không phải luôn chỉ chú trọng đến cân bằng, mà để một vận mệnh tốt cần có sự mất cân bằng về một xu hướng tốt.

Vì thế sách xưa có câu: “Hữu bệnh phương vi quý Vô thương bất thị kỳ Cách trung như khứ bệnh Tài lộc lưỡng tương tùy” (trích Ngũ ngôn độc bộ) Tạm hiểu như sau, trong mệnh cần phải có một vấn đề có nguy cơ xấu, và bên cạnh nguy cơ ấy lại có cả các thần đóng vai trò điều chỉnh nguy cơ về ngưỡng an toàn thì mới có khả năng trở thành mệnh quý. Còn tổ hợp bát tự mà bình ổn, không có nguy hiểm gì thì cũng không phải là hay. Ngoài ra yếu tố cân bằng không chỉ có cân bằng về mặt ngũ hành, mà còn có cả cân bằng âm dương, dẫn đến mỗi dạng cách cục tùy theo cát thần hay hung thần, tòng cách hay không tòng cách mà cần có tỷ lệ cân bằng cần thiết khác nhau, hay nói cách khác, mỗi dạng cách cục đều cần có tỷ lệ mất cân bằng trong phạm vi cho phép khác nhau. Tư tưởng luôn luôn cân bằng có thể ảnh hưởng không tốt tới người nghiên cứu, không thể thể hiện hết chiều sâu của môn Bát tự Tử Bình. Thậm chí xuất hiện một số phái nhỏ hình thành từ tư tưởng đó khiến người nghiên cứu hoang mang. Việc quá chú trọng đến hình thức cân bằng trong Bát tự không phải là điều hoàn toàn sai, nhưng thiếu phổ quát, tức là không thể lý giải cho một số dạng tổ hợp, hoặc lại phải vay mượn lại lý luận truyền thống để bù đắp cho sự thiếu logic, tạo nên sự chắp vá, không thể coi là sự phát triển của Bát tự Tử Bình.

Con người luôn phức tạp, và con người trong cuộc sống thì càng vô cùng phức tạp. Và con người là đối tượng nghiên cứu của Bát tự Tử Bình. Nên trên phương diện người học, người nghiên cứu chúng ta không nên lựa chọn cách tiếp cận kiến thức đơn giản, dễ dàng, mà phải hiểu một cách phức hợp, đa chiều, sâu sắc, để không chỉ hiểu được những điều sâu sắc cổ nhân đã kín đáo gửi gắm qua ngôn từ xúc tích, mà còn cố gắng dựa vào nghiệm lý thực tiễn để có thể diễn giải một cách tường minh hơn. Bắt đầu từ việc hiểu xu hướng vận động chi phối trong bát tự bên cạnh việc có tính cân bằng tương đối còn có sự không cân bằng nữa.

Chương 2 — Xu hướng vận mệnh

của những người sinh cùng thời điểm

Hiện nay có một điều đáng mừng là nhận thức chung của mọi người về vận mệnh đã lý tính hơn rất nhiều. Hầu hết mọi người đã không còn tin vào một lá số có thể thể hiện tất cả thông tin về cuộc đời con người nữa. Đó là tiền đề để học thuật nhân mệnh cải tổ và có sự phát triển tốt hơn. Tuy nhiên thực tế thì các môn huyền học nói chung, Bát tự Tử Bình nói riêng vẫn còn rất nhiều thách thức, thể hiện ở khả năng xem cho nhiều người sinh cùng giờ, có cùng lá số. Hay nói cách khác, ta biết là khác nhưng chưa thể hình dung cụ thể sự khác ấy ở mức độ thế nào, mà tâm thế nghiên cứu vẫn thường chủ quan trước sự khác biệt ấy.

Nhận thức về vận mệnh của đại chúng tuy đã tốt hơn nhưng vẫn còn có một khoảng cách khá xa so với thực tế. Đến ngay cả nhiều nhà nghiên cứu trẻ tuổi, tiếp cận với nhiều văn hóa và nguồn thông tin đa dạng nhưng vẫn tin rằng chỉ cần xem lá số lập trên giờ sinh (năm, tháng, ngày, giờ sinh) là có thể nhìn thấy các vận hạn rất chi tiết “sắc nét” của một con người, thậm chí cha mẹ, tổ tiên, phúc đức, âm phần của dòng họ người đó, tôn sùng những luận đoán nước đôi mà phớt lờ đi thực tế hiển nhiên là những người sinh cùng giờ có vận mệnh khác nhau không nhỏ. Đôi lúc một số người qua việc phân tích thông tin lá số có thể đọc được những thông tin có độ chính xác cao, nhưng điều đó không phải là thường xuyên, cũng không có tính lặp lại ổn định để tạo thành một phương pháp luận thực sự đúng cho các tập nghiệm. Tôi cho rằng hiện nay chúng ta đang có những điều kiện tiếp cận với kiến thức, thông tin càng ngày càng vượt trội, cơ hội giao lưu trao đổi ngày càng lớn, cơ hội nghiệm lý càng nhiều, chúng ta cần phải nắm vững những kiến thức nền tảng để dũng cảm đối mặt với thực tế, dựa vào thực tế phát triển học thuật, chứ không phải thủ cựu, đóng cửa ôm những giới hạn cũ.

Người sinh cùng phút thì vận mệnh có thể vẫn khác nhau nhiều

Phương Tây có bộ môn chiêm tinh học riêng của họ, nhiều người gọi là tử vi phương Tây hay bản đồ sao..., bộ môn này cũng lấy thời điểm sinh để lập lá số. Vì vậy chúng tôi cũng thường xuyên sử dụng dữ liệu của các nhà nghiên cứu phương Tây để bổ sung cho cơ sở nghiệm lý của mình. Họ có một số thí nghiệm về “Time Twins” - tức những người sinh cùng thời điểm nhưng không phải sinh đôi. Nhìn chung

là kết quả cho thấy kể cả những người sùng tín huyền thuật cũng phải thừa nhận rằng cuộc đời những Time Twins này không hề giống, thậm chí rất khác nhau, cho dù đôi khi vẫn thấy ở họ có một số điểm chung nhất định. Đó là kết luận hoàn toàn có thể tin tưởng được, thậm chí sử dụng một số suy luận đơn giản ta cũng có thể đưa ra kết luận tương tự. Ví dụ chúng ta có thông tin giờ sinh của Bill Gates, của Donald Trump hay của những người nổi tiếng khác, đưa lá số của họ lên và nói đây là lá số của họ chúng ta sẽ không khó nhận ra những điểm phù hợp giữa cuộc đời họ và lá số của họ. Nhưng... Những người sinh cùng giờ với họ ở đâu? Nếu những người có lá số đẹp như thế đều có thành tựu lớn, thì chúng ta có hàng trăm, hàng nghìn người sinh cùng giờ với họ, ở khắp nơi trên thế giới, ở cùng đất nước với họ, thậm chí ở ngay cùng bệnh viện họ sinh ra. Nếu mỗi người sinh cùng giờ với Bill Gates chỉ cần giàu bằng 1% Bill Gates thì tất cả họ khó biến mất khỏi con mắt soi mói của truyền thông và danh sách của Forbes cũng không đủ chỗ xếp tên họ. Việc không thể tìm được các trường hợp tương tự cho thấy không phải người nào sinh cùng giờ cũng có thể trở thành tỷ phú, gia sản của họ có thể khác nhau hàng trăm, hàng nghìn lần, từ đó suy ra là những vấn đề họ gặp phải trong cuộc sống, trình độ của họ, nhận thức của họ, tâm tính của họ... cũng khác xa nhau. Hay một số người lấy thông tin lá số của các vị vua từ

thời phong kiến rồi bảo đó là cách cục chân mệnh thiên tử. Nhưng từ đó đến nay đã nhiều vòng can chi lặp lại, không hiếm người đẻ ra có cùng cách cục lá số như thế, nhưng chẳng có ai làm “thiên tử” cả, đây là một trong những ngộ nhận thuật số. Thực tế hơn là thay vì ngồi đọc sách, chúng ta dành thời gian đến các viện phụ sản, nhớ là đến cả những nơi cung cấp dịch vụ cao cấp, và cả các viện bình dân, để trải nghiệm việc cùng thời điểm chào đời mà có bé được đón đỡ trong nhung lụa, có bé lại sinh ra trong gia cảnh bố mẹ nợ nần, khó khăn. Vì vậy nếu chỉ phân tích lá số được lập bằng ngày giờ sinh, bất kể bằng học thuật nào, phương Đông hay phương Tây, lá số theo từng 15 phút hay theo canh giờ 120 phút thì bạn cũng không thể xem chính xác con người, hay vận hạn của họ được. Cá nhân tôi không phải người dễ tin vào những gì người khác viết, trong 5 năm qua tôi cũng đã cố gắng để có những kiểm nghiệm riêng của mình bằng cách tìm những trường hợp sinh cùng giờ, trong quá trình đó tôi cũng tìm được người sinh cùng giờ với mình, với người thân mình, với một số bạn bè của mình, và cảm nhận rất rõ ràng một thực tế là số phận của những người sinh cùng giờ đôi khi giống nhau không nhiều. Cũng không ít trường hợp khác hẳn nhau như ví dụ về 3 người trong cùng chương này vậy. Có vẻ như đây là một thực tế nghiệt ngã mà nhiều người tin tưởng vào sự thần kỳ của lá số không thể chấp nhận nổi.

Các thông tin trong lá số bản chất là những cơ hội có thể xảy ra, chứ không có gì là chắc chắn sẽ xảy ra cả. Nhưng đó cũng không phải thách thức mà học thuật không có cơ hội vượt qua. Các nhà nghiên cứu hiện nay, kể cả môn Bát tự Tử Bình hay Tử vi đẩu số, Chiêm tinh học phương Tây đều đang có những sự thay đổi để thích ứng tốt hơn trước những thực tế này. Trên phương diện nghiên cứu kiến thức Bát tự Tử Bình, tôi nhận thấy khá thú vị khi một số nhà nghiên cứu đã tiếp cận vấn đề này từ gần một ngàn năm trước.

Quan điểm của một số nhà nghiên cứu Tử Bình về những người sinh

cùng giờ Time twins cũng được các nhà nghiên cứu Tử Bình để mắt tới từ thời nhà Tống, ví dụ trong Hỷ Kỵ Thiên có viết về trường hợp hai người phụ nữ có cùng bát tự: năm Ất Dậu tháng Ất Dậu - ngày Ất Dậu - giờ Ất Dậu mà một người cuộc sống rất tốt, một người rất nghèo nhưng lại thọ, bởi ngoại cảnh của họ khác nhau, khí mệnh tòng Sát, Sát vừa là thần thể hiện chồng lại ở cung chồng, nên hoàn cảnh người chồng rất quan trọng, người phụ nữ kết hôn với người chồng phù hợp thì số phận tốt, người kết hôn với chồng không tốt thì số phận xấu, nhưng vẫn tàng ẩn sự mạnh mẽ của Sát - là có sinh lực, sống thọ. Tài liệu trên cũng lý giải một số mệnh cục tương tự nhau nhưng phú quý khác nhau bằng sự khác biệt ở nơi sống, hoàn cảnh sống.

Đó là một phần lý do giải thích cho việc các sách Tử Bình truyền thống chỉ tập trung vào xác định cách cục chứ không đề cập đến luận hạn chi tiết, cụ thể như hạn tháng, hạn ngày, bởi tùy vào ngoại cảnh mà mỗi người có những hạn chi tiết khác nhau, và không thể chỉ xem theo lá số mà luận. Điều đáng quý trọng từ những tiền nhân nghiên cứu Bát tự Tử Bình là đã thấy những giới hạn và tìm cách hoàn thiện bằng việc đi tìm sự liên kết của con người và thế giới, mở ra chiều sâu cho môn học thuật, gợi mở cho hậu thế những công cụ có thể sử dụng, cho dù hoàn cảnh thời xưa điều kiện thông tin, kiến thức là hết sức khó khăn. Như vậy để luận Bát tự Tử Bình không chỉ cần phân tích thông số thời gian sinh mà còn phải xét thêm: - Ảnh hưởng của nơi sinh sống (hiểu rộng ra có thể là phong thủy, văn hóa xã hội...) - Ảnh hưởng của người thân (hiểu rộng ra có thể là mệnh lý, sự di truyền của cha mẹ; mệnh lý, tố chất cá nhân của vợ chồng...) Chúng ta có thể coi việc luận bát tự cho một người giống như phân tích trồng một giống cây có tốt không vậy. Trong đó, quá trình luận thông tin trong lá số là khâu thẩm định cây giống có tốt hay không tốt, có nhiều cơ hội phát triển thuận lợi, khả năng chống chịu sâu bệnh, khả năng thích ứng với thời tiết không, còn thực tế cây phát triển thế nào còn phụ thuộc vào ngoại cảnh, môi trường thổ nhưỡng khí hậu, người chăm sóc, v.v... Nếu cây giống gặp điều kiện tốt, được chăm sóc phù hợp sẽ phát triển mạnh mẽ, vượt trội so với những cây giống cùng loại khác, ngược lại gặp điều kiện bất lợi thì sẽ có thể suy yếu.

Những người sinh cùng giờ có nhiều điều kiện ngoại cảnh tương đồng nhau thì xu hướng số phận có thể có nhiều điểm giống nhau. Giống như những cặp song sinh bị tách ra, không chỉ có thông tin bát tự giống nhau, tức là tố chất giống cây giống nhau, họ còn có một phần ngoại cảnh di truyền giống nhau nữa, và nếu được đưa đến những gia đình có hoàn cảnh tương tự nhau thì vận mệnh sẽ rất giống nhau, nếu không thì cũng sẽ không có nhiều điểm tương đồng. Còn với những cặp sinh đôi trong cùng một gia đình, giống như trồng hai chiếc cây trong 1 chậu, luôn phát triển song hành đồng thời luôn tương tác với nhau, có thể né tránh, nhường nhịn nhau làm thay đổi xu thế phát triển tự nhiên của họ, dẫn đến họ có những phát triển khác biệt so với những người không có anh em sinh đôi. Ví dụ như trường hợp anh em song sinh Kaczyski nổi tiếng tại Ba Lan, từng làm Tổng Thống và Thủ Tướng, có thời điểm người em từ chối tranh cử để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người anh. Những quyết định tương tự như thế cũng sẽ dẫn đến khác biệt trong vận hạn của mỗi anh em so với những người sinh cùng giờ khác. Trên một số trường hợp các cặp sinh đôi bị tách ra và ở trong những điều kiện tương đồng thì lại có vận mệnh rất giống nhau.

Dấu hiệu tồn tại của xu hướng vận mệnh thể hiện qua sự tương

đồng giữa các cặp sinh đôi bị tách rời Theo một số báo dẫn nguồn từ kênh truyền thông Úc - ABC News, có một thí nghiệm của một công ty là Louise

Wise tách nhiều cặp song sinh để tìm hiểu những đứa trẻ sẽ có những phản ứng tự nhiên thế nào trước điều kiện nuôi dưỡng. Trong số các cặp song sinh trong thí nghiệm đó, có Doug Rausch và Howard Burack, một ngày họ gặp nhau và phát hiện 2 người họ có cuộc đời gần như giống hệt nhau, kết hôn cùng năm, có nhiều sở thích chung, nhiều sự việc trùng hợp, vợ của cả hai có sự tương đồng về tính cách, sự nghiệp, sở thích. Trường hợp tương tự cũng xảy ra ở một số cặp song sinh khác cùng chương trình thí nghiệm, như hai chị em Elyse Schein và Paula Bernstein. Ngoài những cặp được theo dõi ở thí nghiệm trên, còn có những cặp song sinh thất lạc khác khi tìm lại phát hiện họ có cuộc sống tương đồng, như hai chị em Lulin và Yanfei tại Trung Quốc. Chúng ta có thể tìm thấy không ít thông tin về những cặp song sinh tương tự qua các trang tin tức. Tuy nhiên, cuộc sống không phải toàn những câu chuyện dễ lý giải, không phải cặp song sinh nào tách ra cũng phát triển giống nhau như vậy, như trường hợp ba anh em sinh ba khác cùng là nạn nhân của thí nghiệm trên, một trong số đó có phản ứng tâm lý tiêu cực hơn so với các anh em còn lại. Hay một số cặp song sinh bị thất lạc ở Việt Nam, ngoài hình dáng, giọng nói, tác phong thì cuộc sống cũng khác biệt không ít. Cho thấy xu hướng vận mệnh là có thật, nhưng không phải lúc nào cũng có thể giải thích theo một cách đơn giản, mà nó là tập hợp các cơ hội biến đổi phức tạp dựa trên thực tiễn cuộc sống dẫn đến nhiều kết quả khác nhau.

Ba người sinh cùng giờ và một số điểm tương đồng cùng khác biệt

Tôi đã quan sát thực tiễn nhiều cặp sinh cùng giờ,

nhưng để tăng tính khách quan thì tôi đưa ra ví dụ về ba người cùng giờ sinh tôi tìm được thông tin trên astro.com, trong số họ có những người nổi tiếng với nhiều thông tin công khai mà tất cả mọi người đều có thể chủ động kiểm chứng thông tin. Có 3 người có thông số lập lá số giống nhau như sau: (1) Cựu tổng thống Mỹ Donald Trump sinh ngày 14 tháng 6 năm 1946, 10h52p sáng theo giấy chứng sinh tại NewYork, múi giờ GMT -4, giờ chính Ngọ tại địa phương là 13h, tương đương với 9h52 phút nếu ở Việt Nam.() (2) Nhà ngoại giao người Pháp Jean - David Levitte sinh ngày 14 tháng 6 năm 1946, 10h30 sáng theo giấy chứng sinh múi giờ GMT+1, giờ chính Ngọ tại địa phương là 12h55p, tức tương đương 9h35 sáng nếu ở Việt Nam.() (3) Một người Mỹ tên là Timothy Getty sinh 9h sáng theo giấy chứng sinh tại Los Angeles, Mỹ, múi giờ GMT-8, giờ chính Ngọ tại địa phương 11h53 phút, thì 9h sáng tương đương 9h7p nếu ở Việt Nam.() ( Cách xác định giờ thực tại địa phương khác với giờ GMT tôi có trình bày ở phần lập lá số bát tự.) Thông số bát tự của cả 3 người như sau: Nam mệnh Năm Bính Tuất - tháng Giáp Ngọ - ngày Kỷ Mùi - giờ Kỷ Tỵ

Phương pháp luận bát tự này sẽ được giải thích kỹ lưỡng ở các phần phương pháp luận. Đặc biệt là phần tòng cách. Bát tự này thần tốt nhất là Ấn tinh Bính hỏa tại trụ năm, trụ năm là cung cha mẹ, trong đó can năm thường là cung thể hiện cha, vì thế, theo như nghiên cứu của cá nhân tôi các yếu tố ngũ hành của người cha sẽ có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đến dụng thần, tuy không có đầy đủ thông tin giờ sinh của 3 người cha nhưng dựa trên ngày sinh thì ta

cũng có thể hình dung được phần nào. (1) Donald Trump: Cha sinh năm Ất Tỵ, tháng Bính Tuất, ngày Quý Mùi, (2) Jean - David Levitte Cha sinh năm Mậu Ngọ, tháng Đinh Tỵ, ngày Mậu Ngọ (3) Timothy Getty Cha sinh năm Nhâm Thìn, tháng Tân Tỵ, ngày Tân Hợi Người cha (1) tổ hợp ngũ hành ngày sinh chủ yếu là hỏa, thổ, có chút mộc. Người cha (2) tổ hợp ngũ hành ngày sinh chủ yếu là hỏa, thổ, mộc chưa thấy. Người cha (3) tổ hợp ngũ hành ngày sinh chủ yếu là kim, thủy, hỏa yếu bị kim thủy kiềm chế. Xin nhắc lại là bát tự này thần tốt nhất là Ấn tinh Bính mang ngũ hành hỏa, trong chương 10, phần tòng cường cách Ấn Kiêu Tỷ Kiếp tôi có viết, dụng thần trọng yếu là Ấn Kiêu, tuy nhiên nếu điểm thêm một chút Quan tinh yếu thì sẽ tốt hơn, ở trường hợp này hỏa thổ là tốt, còn thêm chút mộc yếu thì rất tốt. Như vậy người cha (2) có sự bổ trợ tốt cho mệnh cục, người cha (1) là rất tốt, còn tổ hợp người cha thứ 3 tương khắc với dụng thần là xấu.

Mệnh chủ (1) kế thừa sản nghiệp của cha, làm tỷ phú, rồi làm chính trị gia.

Mệnh chủ (2) cha là trí thức Do Thái, học hành rồi từng bước trở thành quan chức ngoại giao lớn của Pháp, sau khi nghỉ hưu tiếp tục giữ những chức vụ quan trọng trong các tổ chức Quốc tế. Mệnh chủ (3) mất năm 12 tuổi. Qua ví dụ trên chúng ta có thể hình dung những con người sinh cùng giờ có thể có tốt hoặc xấu nếu có những yếu tố bên ngoài phù hợp hoặc không phù hợp, dĩ nhiên để phân tích trọn vẹn sự khác biệt của những người này ta cần các thông tin thực tiễn cụ thể hơn nữa, nhiều hơn thông số ngày sinh của cha mẹ.

Tổng hợp những yếu tố ảnh hưởng tới xu hướng vận mệnh

mỗi người Xu hướng vận mệnh là có thực, đáng được nghiên cứu. Tuy nhiên, xu hướng đó không phải dễ dàng nắm bắt bởi xu hướng đó là sự tổng hòa của rất nhiều yếu tố như: thời điểm sinh, yếu tố di truyền, mệnh lý người thân, môi trường tự nhiên... Ngoài ra là các yếu tố văn hóa gia đình, xã hội. Điều đó giải thích việc các thí nghiệm thống kê sẽ luôn cho thấy sự khác nhau giữa những người sinh cùng giờ, nhưng một xu hướng của số mệnh luôn tồn tại và chúng ta có thể tìm ra nếu sử dụng công cụ phù hợp theo một cách phù hợp, công cụ này có thể là những môn khác chứ không chỉ riêng Bát tự Tử Bình, với một người nghiên cứu thì tôi có cảm nhận rằng Tử Bình là một công cụ khá linh hoạt, an toàn, cũng không quá khó để sử dụng nếu đảm bảo được các thông tin đầu vào cần thiết.

Lý thuyết Bát tự Tử Bình truyền thống nói về 2 yếu tố dùng để kết hợp luận mệnh: - Phương vị vùng miền nơi sinh sống. - Sự tốt xấu của một số người thân ứng với dụng thần. - Về sau có thêm một số lý thuyết nhắc tới đặc thù công việc. Cá nhân tôi qua quá trình nghiệm lý nhận thấy mệnh lý cha mẹ là một yếu tố quan trọng, vì thế trong một số ví dụ tôi đưa thông tin ngũ hành ngày sinh của cha mẹ, vợ chồng (nếu có) vào phân tích để người đọc tham khảo. Ngoài ra, hình tướng ngũ hành (tướng mạo) có thể bổ trợ dụng thần hay không cũng ảnh hưởng một phần tới mệnh lý. Một số trường phái cận đại, phổ biến hiện nay cổ xúy cho hình thức bổ mệnh bằng màu sắc như quần áo, đồ trang sức, vật phẩm phong thủy, đồ ăn thức uống, theo tôi những lý thuyết này cần phải được xét lại bằng những nghiên cứu cụ thể tránh mê tín, chứ chúng không hẳn là hoàn toàn có hại, nhưng ta cần đánh giá đúng ở góc độ thực tiễn và học thuật. Ví dụ cầu thủ Cristiano Ronaldo khi thi đấu thành công cho Manchester United với màu áo đỏ xét là hành hỏa, hay ở đội tuyển Bồ Đào Nhà cũng thi đầu với áo đỏ cũng thành công, chuyển sang Real Madrid khoác màu áo trắng được xét là hành kim thì cũng rất thành công. Màu áo rõ ràng không có ảnh hưởng đáng kể gì với sự nghiệp cầu thủ này. Hay việc bổ trợ hành thủy bằng cách uống nhiều nước,

vậy những người cần hành hỏa thì không uống nước liệu có tốt không? Bổ trợ hành mộc thì ăn rau, thì những người dụng hành thổ, hành kim nên bị táo bón thì tốt? Bổ trợ hành thổ bằng nuôi chó... hay các hình thức bổ mệnh giản đơn khác cũng cần nhìn nhận bằng sự khách quan, lý trí và tư duy logic để phân biệt đâu là sự tình cờ trùng hợp, đâu là phương pháp có cơ sở, là kiến thức có giá trị thực sự hay là tuyên truyền mê tín nhằm trục lợi của một số cá nhân.

Chương 3 — Lập lá số bát tự và một số điều cần lưu ý

Để luận bát tự thì trước tiên ta cần hiểu một lá số bát tự được lập thế nào đã.

Lập lá số bằng công cụ phần mềm trực tuyến

Các bạn có thể vào hocvienlyso.org hay website khác để lấy lá số bát tự, chọn phần mềm lấy lá số bát tự rồi nhập 5 loại thông tin: năm, tháng, ngày, giờ sinh, giới tính. Bạn sẽ được một lá số tương tự như sau:

Có một số công thức để tính can chi ngày từ ngày dương lịch nhưng nó khá rắc rối, khó nhớ, ngoài ra thì lệnh tháng tính theo tiết khí cần phải tra cứu chứ không thể nhẩm được, nên cách tốt nhất vẫn là sử dụng các công cụ được lập trình. Trong tài liệu này tôi sử dụng lá số minh họa lấy từ phần mềm do tôi lập trình trên Excel, để hỗ trợ các bạn học viên đã đăng ký tham gia khóa học Bát tự Tử Bình. Phần mềm này thiết kế để một người mới học khi nhìn vào cũng có thể nắm được những tính toán cơ bản. (Ảnh dưới)

Để tiện cho người đọc theo dõi, xin giới thiệu một số tính năng của công cụ này như sau: Các số ở trên các can là cấp độ mạnh yếu, có gốc hay không có gốc, các can có số 5, 1Q là các can vừa mạnh vừa xuất hiện nhiều lần có nguy cơ trở thành thái quá. Nhìn chỉ số biết ngay can có gốc hay không có gốc, gốc mạnh hay gốc yếu.

Các chữ bên cạnh các can chi là quan hệ giữa các can này và các can khác, các chi này và các chi khác. Ký hiệu bên trong các can thể hiện quan hệ giữa 2 can cạnh nhau. Ký hiệu bên dưới trong can của trụ năm thể hiện quan hệ giữa can năm và can ngày, ký hiệu bên dưới trong can của trụ giờ thể hiện quan hệ giữa can giờ và can tháng. Ở chi cũng tương tự. Dòng giữa can và chi thể hiện quan hệ giữa can và chi trong cùng 1 trụ. Ví dụ giữa Quý và Giáp có chữ S mũi tên hướng sang Giáp, S là quan hệ tương SINH, mũi tên chỉ bên được sinh, ta có thể hiểu ngay là Quý đang sinh cho Giáp. Hay bên cạnh chữ Canh, phía dưới, có một ký hiệu K> tức là ký hiệu quan hệ giữa Canh và can cách nó 1 trụ là

can Giáp ở trụ ngày. K là khắc, mũi tên hướng về phía Giáp, tức là Canh khắc Giáp. TH là tỷ hòa, như chi Dần và chi Mão cùng là mộc tỷ hòa với nhau, không cần mũi tên để điều hướng. Ở trên cùng góc phải là Bảng giải thích các ký tự.

Khu vực ở giữa là một số thông tin phục vụ xác định cách cục, tìm dụng thần.

Từ trên xuống dưới: bảng tổng hợp quan hệ kết nhóm, hội hợp của địa chi. - Một số thông tin về cách cục - Một số thông tin cần lưu ý. Phần bên phải là Dụng thần, hỷ thần phần mềm tự động tính. (Kết quả của hàng nghìn phép tính logic nhưng thi thoảng vẫn có sai sót).

Phần dưới cùng là bảng tích hợp đại vận và tra cứu thập thần, tàng can.

Thời điểm chuyển đại vận, các đại vận - thập thần tương ứng với các can. Cuối cùng là các can tàng trong 12 địa chi. Mỗi phần mềm có thể có các cách trình bày khác nhau nhưng khi nhìn vào một lá số bát tự thì những thông tin cần lưu ý nhất như sau: - 8 can chi trong 4 trụ: năm, tháng, ngày, giờ - Các tàng can dưới các địa chi - Thập thần tương ứng với 4 can bên trên và các tàng can bên dưới - Các đại vận 10 năm - mỗi đại vận cũng như các trụ có 1 can và 1 chi đại vận. - Lưu niên trong đại vận cần xem

Tính trụ năm

Năm để tính bát tự là năm tiết khí chứ không phải năm tính theo âm lịch, tức là bắt đầu từ tiết lập xuân và kết thúc trước tiết lập xuân của năm tiếp theo. Bạn cần 1 bảng tra tiết khí theo từng năm để tính nếu muốn tự tính thủ công. Tôi thường nhận được câu hỏi là tại sao một số lá số

sinh khoảng cuối tháng 1 đầu tháng 2 một số năm thì lại khác năm âm lịch. Điều này là bình thường bởi 2 loại lịch có phương pháp tính toán khác nhau.

Tính trụ tháng

Tính từ tiết lập xuân là tháng Dần, cứ khoảng 15 ngày sau là 1 trung khí, 15 ngày tiếp theo trung khí lại là 1 tiết khác, thì tiết đó bắt đầu tháng Mão, cứ tương tự như vậy đến các tháng Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý và tháng cuối cùng trong 1 năm là tháng Sửu.

Tính trụ ngày

Các can chi ngày cứ nối tiếp tuần tự bắt đầu từ ngày Giáp Tý sau chu kỳ 60 ngày, kết thúc tại ngày Quý Hợi và ngày tiếp theo lại là ngày Giáp Tý. Bạn cần một cuốn lịch vạn niên để tra. Lưu ý chỉ để tra trụ ngày thôi còn trụ tháng, trụ năm phải tính theo tiết khí.

Tính trụ giờ

Cách tính giờ có lịch sử hàng nghìn năm có thể áp dụng tính giờ không chỉ ở Việt Nam hay Trung Quốc mà khắp nơi trên thế giới. Lưu ý giờ để tính bát tự là một loại giờ Mặt trời, tính theo trạng thái Mặt trời tại 1 địa phương cần xem, không được nhầm lẫn với giờ GMT - giờ quy ước quốc tế, còn giờ GMT là do con người quy ước với nhau không hoàn toàn đúng theo giờ tự nhiên tại địa phương đó. Đầu tiên chúng ta cần xác định thời điểm mặt trời lên cao nhất trong ngày, tạo một góc chiếu vuông góc với mặt đất, được gọi là điểm Chính Ngọ - tức là thời điểm giữa

giờ Ngọ. Ta có thể sử dụng một số công cụ phần mềm như công cụ lịch pháp của tác giả Hồ Ngọc Đức, hay vào một số website như timeanddate.com để xem giờ Chính Ngọ tại địa phương nào đó. Ta trừ đi 1 giờ theo quy ước quốc tế hay giờ “Tây” (60 phút) để biết thời điểm bắt đầu giờ Ngọ, từ đó tính các giờ khác, tương tự như bảng sau. (Gọi M là giờ tại điểm Chính Ngọ)

Mỗi giờ “canh” kéo dài 120 phút hay 2 giờ “Tây”. Có một quan điểm cần phải bác bỏ là tính giờ lấy bát tự phải tính theo giờ Bắc Kinh (Trung Quốc), quan điểm này

trái với cách tính giờ của người xưa, là một quan điểm thiếu cơ sở, gượng ép, áp đặt. Ngoài ra cũng có các quan điểm trái ngược về giờ Tý. Ví dụ nửa đầu giờ Tý là ngày hôm trước, nửa sau giờ Tý là ngày hôm sau. Để trình bày đầy đủ thì không đơn giản, bởi phản đối hay đồng thuận đều chỉ có thể dựa trên các quan điểm nội suy từ các lý thuận mơ hồ, cơ bản là không thể tìm ra sự đồng thuận nếu chỉ dựa trên lý thuyết. Nhưng với tôi, tính toàn vẹn của địa chi cần được bảo vệ, và trong nhiều loại lịch pháp cổ tại phương Đông, các điểm “chí âm” hay “chí dương” không được coi là điểm bắt đầu trong cả việc tính giờ và tính tháng, các điểm “chí” là các điểm chính giữa của các địa chi chí âm (Tý) hay chí dương (Ngọ). Trên quan điểm người nghiên cứu, tôi luôn sẵn sàng điều chỉnh bất cứ quan điểm cá nhân nào nếu chúng phù hợp với các kết quả thực nghiệm. Và dựa theo nhiều thực nghiệm thì tôi, cùng một số nhà nghiên cứu khác (bằng cả hai học thuật nhân mệnh Tử Vi và Tử Bình), nhận thấy lý luận chia giờ Tý thành hai phần không thực sự phù hợp.

Tính đại vận

Phương pháp tính đại vận thông thường qua

một số bước như sau: Bước 1: Xác định mệnh chủ thuộc nhóm dương nam, âm nữ hay âm nam, dương nữ. Tùy theo mệnh chủ bát tự là nam hay nữ, rồi xem năm sinh mệnh chủ là năm có chi dương hay chi âm. Các năm có chi dương là: Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân,

Tuất. Nam sinh các năm này là dương nam, nữ sinh các năm này là dương nữ. Các năm có chi âm là: Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu Hợi. Nam sinh các năm này là âm nam, nữ sinh các năm này là âm nữ. Dương nam và âm nữ thì các đại vận là can - chi các tháng tiếp theo tháng sinh. Âm nam và dương nữ thì các đại vận là can - chi các tháng trước đó. Bước 2: Sắp xếp can chi các đại vận Với dương nam và âm nữ thì các đại vận là can, chi các tháng tiếp theo tháng sinh. Ví dụ người sinh tháng Giáp Thân thì đại vận đầu tiên là Ất Dậu, tiếp theo là Bính Tuất, Đinh Hợi… Với âm nam và dương nữ thì các đại vận là can, chi các tháng trước tháng sinh. Ví dụ người sinh tháng Giáp Thân thì đại vận đầu tiên là Quý Mùi, tiếp theo là Nhâm Ngọ, Tân Tỵ, Canh Thìn… Bước 3: Tính ngày chuyển đại vận đầu tiên Để tính ngày chuyển đại vận thì phải xác định được ngày bắt đầu và ngày kết thúc của tháng tiết khí mà mệnh chủ sinh ra. Với dương nam, âm nữ thì đếm số ngày tính từ ngày sinh tới ngày kết thúc của tháng tiết khí. Với âm nam, dương nữ thì đếm số ngày tính từ ngày sinh tới ngày bắt đầu của tháng tiết khí. Sau đó dùng công thức sau để tính thời điểm gọi là thời

điểm “nhập vận”. Lấy số ngày vừa đếm được chia cho 3 để tính số tuổi “nhập vận”. Ví dụ ta đếm được 18 ngày, thì nhập vận vào năm 6 tuổi, nếu đếm được 19 ngày thì chia 3 sẽ được 6 tuổi mà vẫn dư 1 ngày, 1 ngày đó quy đổi thành 1/3 năm tức là 4 tháng, vậy 6 tuổi 4 tháng nhập vận, nếu đếm được 20 ngày thì 6 tuổi 8 tháng nhập vận. Bước 4: Tính thời điểm chuyển các đại vận tiếp theo Từ kết quả số tuổi bước 3 sẽ tính được thời điểm chuyển vận đầu tiên. Sau đó cộng thêm 10 năm sẽ ra kết quả chuyển đại vận tiếp theo, cứ tiếp tục như vậy đến các đại vận sau đó.

Cải tiến nhỏ trong cách tính đại vận

Dựa trên quy trình tính đại vận như trên có thể rút ra một số điều: + Cổ nhân quy đổi 1 tháng tiết khí thành 10 năm. + Bản chất việc chia cho con số 3 là để tính thời điểm mà đại vận có can, chi là tháng sinh kết thúc. Quy đổi từ số ngày sinh còn lại trong tháng ra số năm, tháng của đại vận đầu đời. Cổ nhân đã làm tròn 1 tháng tiết khí là 30 ngày, từ đó mới tính 3 ngày thể hiện 1 năm, 1 ngày thể hiện 4 tháng. + Đại vận đầu tiên không phải là can chi tháng tiếp theo (với dương nam, âm nữ) hoặc tháng trước đó (với âm nam, dương nữ) mà chính là đại vận có can, chi là can, chi của tháng sinh. + Cách tính phổ thông có sai số nhất định bởi 1 tháng tiết khí có số ngày dao động từ xấp xỉ 29,4 - 31,15 ngày. Với khoảng cách số ngày giữa ngày sinh và thời điểm chuyển

tiết càng lớn thì sai số càng lớn. Điều này hoàn toàn có thể thông cảm được bởi trước kia việc xác định chính xác tiết khí đã là một điều khó khăn, hơn nữa việc sử dụng phép chia chính xác với số lẻ cũng rất khó. Hiện nay phần mềm tính lá số bát tự tại hocvienlyso.org đã tính tương đối chính xác sự biến động này với sai số rất nhỏ.

Tiểu vận

Có nhiều hơn 1 cách tính tiểu hạn trong Bát tự Tử Bình. Và nhiều trường phái lớn trong Tử Bình không ủng hộ cách nào trong hai cách đó. Lời khuyên của tôi là khi luận Hành vận nên tập trung vào Đại vận, Lưu niên.

Lưu niên

Tại các năm cần xem mỗi năm có 1 can và 1 chi, các can chi này kết hợp cùng các can chi trong Đại vận, trong bát tự để luận vận trình. Xem phần luận hành vận.

Thần sát

Nếu bạn muốn tìm hiểu về thần sát thì có thể tìm hiểu thêm ở một số sách như Uyên Hải Tử Bình, còn nếu bạn muốn tìm kiếm các quan điểm hạn chế thần sát thì đọc các sách Trích Thiên Tủy, Tử Bình Chân Thuyên. Ở trong phần phụ lục tôi có lý giải tại sao thần sát không phải là ưu tiên nghiên cứu.

Chương 4 — Con người trong bát tự

Sau khi có được các thông tin cần thiết để luận bát tự, thì chúng ta cần nhìn vào bát tự - tám chữ can chi trong 4 trụ năm, tháng, ngày, giờ - và hình dung về hình ảnh một con người được phác họa qua các thông số đó. Để hình dung con người trong bát tự, ta cần nhìn theo hướng từ trong ra ngoài, theo chiều dọc từ dưới lên trên, và qua chiều ngang bốn trụ từ năm đến giờ. Đây là những điều rất quan trọng nếu bạn muốn phác thảo về cuộc sống, tâm tính con người trong bát tự.

Từ trong ra ngoài

Đầu tiên bạn nhìn từ trong ra ngoài, bên trong là trụ tháng, trụ ngày, bên ngoài là trụ giờ, trụ năm.

Phần bên trong là bản thân bạn và môi trường tương tác chính của bạn. Trụ ngày là bản thân bạn, trụ tháng là đề cương của ngũ hành, là thước đo, đại diện cho các thành phần chính cấu thành nên chuẩn mực xã hội nội tâm. Cơ sở của sự mô phỏng này gắn liền với việc áp dụng một số lý luận và quy ước thiên văn, được áp dụng trong cả Bói dịch và Bát tự Tử Bình, khó có thể đảo ngược lại. Phần bên trong này giống như phần lõi, phần động cơ trong một chiếc xe ô tô, chiếm tầm ảnh hưởng quan trọng đến sự vận hành chung của bát tự. Tiếp theo bạn nhìn theo chiều từ dưới lên.

Từ dưới lên trên hay Địa nguyên, Nhân nguyên và Thiên nguyên

Từ dưới lên trên bắt đầu từ 4 địa chi, ở 4 trụ năm, tháng, ngày, giờ. 4 chi này được gọi là Địa nguyên, trong phần bên dưới này ngoài các Địa nguyên còn có các Nhân nguyên, trong các địa chi tàng các thiên can, các tàng can này được gọi là nhân nguyên. Địa nguyên và Nhân nguyên là chỗ dựa, là đất sống cung cấp năng lượng cho phần bên trên - 4 thiên can gọi là Thiên nguyên. Phần bên dưới này giống như một kho chứa tinh thần, ý thức, phần nhiều trong đó giống như các tiềm thức, ẩn ức, bản năng, nhận thức và ý thức thụ động, nó thiên về nhận thức các thông tin, các cảm xúc, nó cũng đóng vai trò xử lý các thông tin, đôi lúc nó cũng đưa ra những quyết định quan trọng, hỗ trợ hoặc thay thế khi phần bên trên không hoạt động hiệu quả. Phần bên trên là phần thể hiện ra bên ngoài, nó là phần xử lý thông tin chính, góp phần chính vào việc đưa ra những lý luận, kết luận, kiểm soát các cơ chế phòng thủ, đưa ra giải pháp, quyết định hành động. Kết hợp các yếu tố trên dưới và trong ngoài, ta sẽ hiểu được rằng trung tâm xử lý - kiểm soát nằm ở can ngày hay còn gọi là Nhật chủ, và trung tâm nhận thức nằm ở chi tháng.

Đó là cơ chế hoạt động đầu tiên của bát tự, nền tảng quan trọng hình thành các cách cục. Bát can chi trong tứ trụ liên kết với trung tâm điều khiển - can ngày (Nhật chủ) qua các quan hệ âm dương, ngũ hành, và các can chi này được chuyển hóa thành các thập thần. Có thể nói thập thần chính là cơ chế thông tin liên lạc của bát tự, từ đó phân vai trò chức năng hoạt động của các can chi để xác định các xu hướng vận hành chung của bát tự, nhờ đó ta có thể phác thảo chân dung một con người và dự đoán những gì người đó trải qua trong quá khứ, hiện tại, tương lai, tức là toàn bộ hành trình vận mệnh của họ. Các vai trò chức năng của thập thần không chỉ thể hiện tương tác của các can chi khác với nhật can, mà qua những tương tác đó còn mô phỏng được các hoạt động của con người trong xã hội, tương tác của con người với những người xung quanh, dự đoán được một phần hình ảnh của người thân qua tương tác của mệnh chủ với người đó. Các thập thần có thể phác thảo về năng lực, dự đoán tố chất về công việc, ngoại suy ra được sự nghiệp, tiền tài, sức ảnh hưởng tới xã hội, cũng như thể hiện được phần nào về người thân như vợ chồng, cha mẹ, anh em, bạn bè, con cái. Nhưng chỉ có thế thì chưa đủ vì chiếc xe tốt không phải thiết kế đẹp để trưng bày bất động trong tủ kính, mà còn phải được thiết kế tốt để vận hành trên nhiều tuyến đường khác nhau nữa. Để biết bát tự có được kết cấu tốt trong vận hành hay không ta cần nhìn vào chiều từ trái phải, từ trụ năm, trụ

tháng, trụ ngày, trụ giờ. Mỗi trụ góp phần tạo nên cấu trúc chung của bát tự, là thiết kế để vận hành trong một giai đoạn trong cuộc đời, tùy theo thập thần tại mỗi trụ có đóng góp vào xu hướng vận hành chung hay không mà ta có thể nhìn ra chiếc xe có thể chạy đến đích an toàn hay không, cũng như nhìn nhận về những thuận lợi hay trở ngại chiếc xe có thể gặp phải trên hành trình.

Bốn giai đoạn vận trình tương ứng với tứ trụ

Theo chiều ngang - trái phải - từ trụ năm đến trụ giờ phân thành 4 giai đoạn phát triển như sau: + Thời thơ ấu, trước thành niên - ứng với trụ năm + Thời thanh niên - ứng với trụ tháng + Thời kỳ trưởng thành - ứng với trụ ngày + Thời kỳ hậu vận - ứng với trụ giờ Trong mỗi thời kỳ này sẽ có thể có một số cá nhân có sức ảnh hưởng lớn: mẹ

  • Thời thơ ấu, trước thành niên - ứng với trụ năm - cha + Thời thanh niên - ứng với trụ tháng - anh em, bạn bè

  • Thời kỳ trưởng thành - ứng với trụ ngày - cái tôi bản thân và người hôn phối + Thời kỳ hậu vận - ứng với trụ giờ - con cái Thực ra trong bát tự chỉ thể hiện bản thân một người. Tuy nhiên giống như một câu thành ngữ nước ngoài: “Hãy cho tôi biết bạn của bạn là ai, tôi sẽ cho bạn biết, bạn là

người thế nào”, tâm hồn, tính cách tạo nên số phận của chúng ta được hình thành qua tương tác của chung ta với những người xung quanh, không chỉ là bạn bè, mà còn là gia đình, cha mẹ, và những người thân khác nữa. Chúng ta tương tác chủ yếu với những người thân thuộc, và tương tác xa hơn với những người ít thân thiết. Nhưng tất cả đều tạo thành một tổng thể xã hội gắn bó với chúng ta, thậm chí, ở mức độ gắn bó mật thiết nhất, quan trọng nhất là chính thân thể máu thịt cũng được tạo thành từ những “người khác”, là bố và mẹ của chúng ta, xa hơn nữa là dòng tộc của chúng ta. Trong một số sách, ta gặp những cách phân định khác, như trụ năm là tổ tiên, trụ tháng là cha mẹ. Cần hiểu rằng đây đều là những hệ quả, không có cách nào hoàn toàn đúng hay hoàn toàn sai. Kết luận có thể đưa ra trên cơ sở một tập nghiệm nào đó, và vì những hình ảnh của người thân là tương đối, nên tùy vào tập nghiệm mà 1 nhà nghiên cứu có thể đưa ra kết luận khác nhau. Ví dụ: nếu nghiệm lý với những người giai đoạn tuổi trẻ vẫn lệ thuộc - hay là chịu ảnh hưởng lớn bởi cha mẹ mà không có nhiều tiếp xúc với xã hội khác, thì trụ tháng vẫn thể hiện nhiều thông tin về cha mẹ hơn là bạn bè anh em. Một số hệ quả có thể thay đổi, nhưng khi chúng ta hiểu về bản chất, thì chúng ta sẽ hiểu nguyên nhân của sự khác biệt của những hệ quả đó.

Trụ giờ thường là yếu tố then chốt quyết định kết quả của bát tự

Trong các sách bát tự cổ có nhiều cách cục được đặt tên theo cát thần đóng trụ giờ như: thời thượng Chính Quan

cách, thời thượng Chính Tài cách... bởi vì trụ giờ là giai đoạn hậu vận, nếu giai đoạn đó tốt thì có nghĩa thành quả tích lũy của người đó cao và ngược lại, nếu giai đoạn đó gây xấu cho xu hướng vận mệnh thì bước sang giai đoạn đó con người sẽ có thể gặp nhiều chông gai. Vì thế tôi sử dụng khái niệm “thuận chiều” và “ngược chiều” để nhấn mạnh vai trò của việc phân tích ảnh hưởng của trụ giờ lên tổng thể bát tự.

Sự tổng hợp của các chiều và liên kết của thập thần

Trong bát tự luôn có 1 hoặc một vài xu hướng chi phối, và trung tâm điều khiển - Nhật chủ - phải tìm cách nhờ vào một số thần phù hợp giúp kiểm soát, điều chỉnh các xu hướng đó để mang lại những tích cực cho mệnh cục. Các khái niệm dụng thần, hỷ thần là những thập thần đóng vai trò giúp kiểm soát, điều chỉnh này. Phe đối lập là một số thần đóng vai kỵ thần làm phá hoại khả năng kiểm soát, điều chỉnh các xu hướng. Khi này thần nào gặp được các yếu tố ngoại cảnh hỗ trợ sẽ mạnh lên, có thể khiến cán cân quyền lực trong bát tự thay đổi. Các thần tham gia trực tiếp vào sự kiểm soát điều chỉnh này, bao gồm dụng thần, hỷ thần và các kỵ thần, đều sẽ trở thành những thần ảnh hưởng chính trong bát tự. Các bát tự có tổ hợp mà dụng, hỷ thần chiếm ưu thế, tức là bát tự được kiểm soát tốt sẽ thể hiện nhiều cơ hội tốt cho vận mệnh của mệnh chủ. Ngược lại, bát tự bị kỵ thần kiểm soát, mệnh chủ sẽ có nguy cơ về một cuộc sống không thuận lợi.

Danh sách các can chi, thập thần cần chú ý khi luận bát tự

Dựa theo các yếu tố đã nói ở phần trên thì cần chú ý tới những can chi sẽ đóng vai trò cốt lõi trong quá trình luận bát tự như sau: + Nhật chủ: trung tâm điều khiển, kiểm soát. + Chi ngày: trợ lý quan trọng của trung tâm điều khiển, kiểm soát. + Chi tháng: trung tâm thu nhận, nhận thức. + Các nhóm chi hỗ trợ chi tháng: hỗ trợ thu nhận, nhận thức. + Can tháng: hỗ trợ xử lý cho trung tâm điều khiển. + Can giờ: hỗ trợ xử lý, định hướng kiểm soát. + Dụng thần: bộ phận trực tiếp thực thi các hoạt động kiểm soát. + Hỷ thần, dược thần: thần hỗ trợ dụng thần, khắc chế kỵ thần. + Kỵ thần, bệnh thần: thần gây rối loạn thúc đẩy xu hướng vận mệnh theo chiều hướng tiêu cực.

Chương 5 — Thập thần

Nhật can có nhiệm vụ chính là trung tâm kiểm soát, điều khiển, giống như quân Vua trong bộ cờ vậy, phải phụ thuộc vào các can chi khác để triển khai các hoạt động. Các can chi khác tùy theo quan hệ với Nhật thần (một cách gọi khác của nhật can) mà phân vai trò nhiệm vụ, chức năng khác nhau. Cũng như một lãnh đạo sắp xếp nhân sự phù hợp với năng lực mà lãnh đạo nhận thấy ở các đối tượng nhân sự.

Người hung dữ phân làm bảo vệ, trị an, người hiền lành chăm chỉ thì lo các việc nội bộ, người có kiến thức thì sắp xếp bộ vào phòng ban có chức năng thư ký, cố vấn... Thập thần trong bát tự giống như các quân cờ, còn bố cục sắp xếp các cung vị can chi trong bát tự giống như trận địa, có thể nói thập thần là lực lượng vận hành, là các thành phần bộ máy để bát tự hoạt động, nếu có bố cục hài hòa hợp lý thành mệnh tốt có thể giành được nhiều thắng lợi, bố cục không hợp lý thành mệnh xấu thắng thì ít mà chỉ hòa hoặc thua. Vì vai trò rất quan trọng đó nên Thập thần trong bát tự được xác định thế nào là điều tất cả người học cần nắm vững.

Thập thần là các thiên can, tàng can

Thập là 10, có 10 can nên gọi là thập, mỗi can theo quan hệ với Nhật chủ phân một vai vế đảm nhiệm chức năng, hàm chứa động lực, tính chất nào đó nên gọi là các “thần”. Để tiện cho quá trình quy đổi các tính chất của địa chi ra thập thần, thì môn Bát tự Tử Bình quy đổi các địa chi thành những tàng can, và tính thập thần dựa trên những tàng can ấy. Vì thế Thập thần vừa là các thiên can, vừa là các tàng can.

Trong một số lá số bát tự hiện nay, thường thì thập thần được thể hiện bằng những chữ viết tắt ở trên đầu các can và ở dưới của các tàng can. Ví dụ ở bát tự mẫu này thì trên chữ Canh là chữ Sát viết tắt của thần Thất Sát. Trên chữ Quý là chữ Ấn, viết tắt của Chính Ấn, trên chữ Đinh có chữ Thương là Thương Quan. Bên dưới mỗi địa chi cũng có một số tàng can, mỗi can này cũng giống như những can lộ ở bên trên được phân vai cho một “thần”. Trên can ngày thì không cần phân thần nào cả vì can ngày vốn dĩ là một vị thần chủ quản lý rồi. Để phân biệt 4 can xuất hiện ở trên 4 trụ với các can tàng ở dưới địa chi người ta gọi đó là các can thấu, can xuất hiện. Vì thế các thần tương ứng với các can cũng được gọi là thần thấu hoặc thần tàng.

Tính Âm Dương của can và sự hợp tính Âm Dương với nhật can là

một cơ sở để phân định thập thần Có tất cả 10 thiên can:

Các can đánh số lẻ 1, 3, 5, 7, 9 Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là những can dương.

Các can đánh số chẵn 2, 4, 6, 8, 10 là là Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý các can âm. Nếu chúng ta so 1 can thuộc nhóm dương và 1 can thuộc nhóm âm, thì ta gọi 2 can đó là hợp tính âm dương. Nếu ta so 1 can thuộc nhóm dương với 1 can thuộc nhóm dương, hoặc 1 can thuộc nhóm âm và 1 can thuộc nhóm âm thì ta gọi 2 can đó là không hợp tính âm dương. Việc hợp tính này giống như các cực của nam châm cùng dấu thì đẩy, trái dấu thì hút vậy.

Tính ngũ hành của các can và sự tương sinh, tương khắc, tỷ hòa

của các can là quan trọng để xác định thập thần Ngũ hành của 10 thiên can:

Các can tương sinh với nhau như theo tính tương sinh của ngũ hành: + Mộc sinh hỏa: Giáp, Ất hành mộc sinh Bính, Đinh hành hỏa + Hỏa sinh thổ: Bính, Đinh hành hỏa sinh Mậu, Kỷ hành thổ

  • Thổ sinh kim: Mậu, Kỷ hành thổ sinh Canh, Tân hành kim + Kim sinh thủy: Canh, Tân hành kim sinh Nhâm, Quý hành thủy + Thủy sinh mộc: Nhâm, Quý hành thủy sinh Giáp, Ất hành mộc Các can tương khắc nhau cũng tương tự thế, kim khắc mộc, mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim. Và các can cùng ngũ hành thì tỷ hòa, củng cố trương trợ cho nhau. Xem thêm ở phần kiến thức cơ bản về ngũ hành.

Do hình thành từ các quan hệ sinh khắc ngũ hành nên giữa các nhóm thập thần với nhau luôn tồn tại những quan hệ sinh khắc cố định như hình trên.

Danh sách 10 thần

Từ quan hệ ngũ hành và tính âm dương của các can với Nhật chủ để phân các can thành các thập thần.

Phần đánh giá cơ bản chỉ là nhận định ban đầu, tùy tình huống mà cát thần trở thành hung thần hoặc ngược lại.

Một vài tính chất cơ bản của thập thần

Chính Quan và Thất Sát

Hai thần này có quan hệ tương khắc với Nhật chủ, nhưng không nên vội coi chúng đều là các hung thần. Mà cần hiểu Quan, Sát như 2 đối tượng sở hữu vũ khí trong tổ chức, cũng có thể hiểu vũ khí này không phải chỉ là thứ dùng để tấn công mà còn có thể coi là công nghệ quan trọng, công cụ

quan trọng để tổ chức hoạt động. Trong đó Chính Quan là thứ vũ khí dễ điều khiển, khi cần có thể dễ dàng sử dụng để bảo vệ tài nguyên. Còn Thất Sát là khẩu súng không có chốt an toàn, khi mang bên người có thể cướp cò gây hại cho chủ sử dụng, nhưng nếu vũ khí này có điều chỉnh thích hợp có thể sử dụng hiệu quả không kém gì Chính Quan, khi đó Thất Sát được coi là Thiên Quan. Quan, Sát đại diện cho sự mạnh mẽ trong hành động, sự quyết đoán trong tư duy. Khi là cát thần thì đại diện cho thành công trong sự nghiệp, vị trí cao của bản thân trong tổ chức, xã hội. Khi là cát thần bị phá, hung thần không được chế khử thì lại là đại diện cho sự rắc rối pháp lý, bệnh tật nguy hại, hay là những nguy hiểm ảnh hưởng tới thân thể. Luôn khắc Tỷ Kiếp. Luôn bị Thực Thương khắc.

Chính Ấn và Thiên Ấn

Đều là thần sinh Nhật chủ, trong đó Chính Ấn được coi là tốt hơn Thiên Ấn. Khi là dụng thần, hỷ thần thì đại diện cho khả năng tiếp thu, kế thừa, quản lý, bằng cấp, học vấn, trình độ chuyên môn. Khi xấu, là kỵ thần vượng khí, dụng thần bị phá thì thể hiện sự bế tắc về tinh thần, hoặc tiền tài hôn nhân kém, quan hệ với cha mẹ không tốt, học hành không thuận lợi. Luôn khắc Thực Thương, luôn bị Tài tinh khắc.

Chính Tài và Thiên Tài

Đều là thần Nhật chủ khắc, đều được coi là cát thần, còn được gọi chung là nhóm Tài tinh. Chủ về năng lực xử lý, đưa ra giải pháp khắc phục khó khăn, mở ra cơ hội. Khi tốt

là báo hiệu tiền bạc, điều kiện vật chất, thu nhập tốt. Khi xấu thì báo hiệu nguy cơ có thể học hành dở dang, hao tán tiền bạc, thân thể thương tổn. Luôn khắc Ấn Kiêu và luôn bị Tỷ Kiếp Khắc.

Thực Thần và Thương Quan

Đều là thần được Nhật chủ sinh cho, được coi là các thần nửa cát nửa hung. Chủ về đời sống tinh thần, cảm xúc, trí tưởng tượng và đam mê. Khi tốt báo hiệu đời sống tinh thần sung túc, sự đam mê đem lại thành quả. Khi xấu báo hiệu bệnh tật, tâm bệnh, sự lười biếng trễ nải, hình thương, kiện tụng - rắc rối pháp lý, khẩu thiệt. Luôn khắc Quan Sát và luôn bị Ấn Kiêu khắc.

Tỷ Kiên và Kiếp Tài

Đều là các thần có chung ngũ hành với nhật can, đều bị coi là hung thần. Chủ về cái tôi, sự tự tin, sự kiên cường, khả năng giao tiếp, kết nối với anh em bạn bè, và các mối quan hệ khác trong xã hội. Khi tốt thể hiện sự tự tin, hiệu quả trong giao tiếp mang lại nhiều lợi ích. Khi xấu thể hiện sự tranh đoạt, hao tiền, tốn của, thương hại thân thể. Luôn khắc Tài tinh và luôn bị Quan, Sát khắc.

Khả năng ảnh hưởng khác nhau của 10 thần

10 thần có những tính chất riêng, dẫn đến chúng có khả năng dẫn dắt các thần còn lại khác nhau, khả năng này còn bị ảnh hưởng bởi thế lực cụ thể của các thần trong các tổ hợp bát tự khác nhau. Khi chọn dụng thần trong bát tự cần lưu ý đến thứ tự các nhóm như sau:

Nhóm đặc biệt

1 - Chính Quan 2 - Thất Sát Lực lượng vũ trang, sở hữu những công cụ quan trọng đứng đầu trong các thập thần.

Nhóm ưu thế

Nhóm ưu thế này gồm 2 nhóm tương đương nhau: Nhóm A - Tài tinh: bao gồm cả Chính Tài và Thiên Tài. Nhóm này giống như những kẻ cầm tài chính vậy, có ảnh hưởng quan trọng. Nhóm B - Ấn tinh: bao gồm cả Chính Ấn và Thiên Ấn - Kiêu Thần. Nhóm này giống như giới trí thức vậy, có ảnh hưởng tương đương nhóm Tài tinh. Hai nhóm này luôn cạnh tranh, nhóm Tài tinh luôn khắc Ấn tinh. Đôi khi cần chọn 1 trong 2, dùng nhóm này phải tránh nhóm kia, nhưng có khi chúng lại có thể kết hợp được nếu có phe trung gian là Quan, Sát hoặc bố cục hợp lý.

Nhóm tiềm năng

Nhóm này có Thực Thần và Thương Quan Nhóm này nửa tốt, nửa xấu, tùy tổ hợp bát tự mới có thể xác định chúng là tốt hay xấu.

Nhóm phụ trợ

Là Tỷ Kiên và Kiếp Tài gọi chung là Tỷ Kiếp. Nhóm này rất ít khi trở thành nhà lãnh đạo thực sự, nhưng có thể củng cố cho Nhật chủ, và đôi khi nếu có sự hậu thuẫn của nhóm Ấn tinh thì cũng có thể vươn lên làm lãnh đạo.

Chương 6 — Tàng Can

Thập thần không chỉ đóng ở thiên can mà còn xuất hiện ở tàng can trong các địa chi. Vậy bản chất tàng can này là gì? Bảng tàng can trong các địa chi

Tại sao lại cần có sự xuất hiện của tàng can?

Tàng can không tách rời khỏi những tính chất của địa chi. 12 địa chi là những khái niệm hình thành từ các quy ước chiêm tinh học cổ đại thể hiện 12 trạng thái của sự biến đổi tại mặt đất trước tác động của Mặt trời trong các chu kỳ (chu kỳ vận động của Trái Đất quay xung quanh Mặt Trời trong 1 năm và vận động tự quay quanh trục của Trái Đất trong 1 ngày). Tác động của Mặt Trời này cũng được sử dụng tính Âm Dương và tính Ngũ hành để diễn giải. Tuy nhiên nếu chỉ sử dụng Âm Dương và Ngũ hành thì nhiều tính chất của 12 địa không được thể hiện trọn vẹn, cũng như việc để quy đổi địa chi ra thập thần được tiện lợi hơn, cổ nhân sử dụng thêm khái niệm tàng can để thể hiện các tính chất của địa chi.

Số lượng tàng can trong 1 địa chi

Mỗi địa chi có thể có 1, 2 hoặc 3 tàng can. Số lượng này thể hiện ngũ hành thiên can nào chiếm lực lượng tương đối mạnh trong địa chi.

Can bản khí trong địa chi

Mỗi địa chi vốn có 1 ngũ hành, và can mang ngũ hành đó là can bản khí của địa chi đó. Ngũ hành các địa chi như sau: - Dần, Mão hành mộc. - Tỵ, Ngọ hành hỏa. - Thìn, Tuất, Sửu, Mùi hành thổ, + Sửu thấp thổ; Mùi táo thổ.

  • Thìn hơi nghiêng về thấp trong một số trường hợp, Tuất hơi nghiêng về táo trong một số trường hợp. + Thấp thổ khắc thủy không mạnh, Táo thổ sinh kim không nhiều. - Thân, Dậu hành kim. - Hợi, Tý hành thủy.

Can tàng thể hiện nhóm tam hội

Các địa chi ứng với các tháng trong 1 mùa tạo thành nhóm chi tam hội của mùa đó, đều mang các tàng can thể hiện khí ngũ hành của mùa đó. - Đông - hành thủy. Tam hội Hợi, Tý, Sửu đều tàng can thủy. - Xuân - hành mộc. Tam hội Dần, Mão, Thìn đều tàng can mộc. - Hè - hành hỏa. Tam hội Tỵ, Ngọ, Mùi đều tàng can hỏa. - Thu - hành kim. Tam hội Thân, Dậu, Tuất đều tàng can kim.

Can tàng thể hiện nhóm tam hợp

Tam hợp là các vị trí trường sinh, đế vượng, mộ trong vòng trường sinh của 1 ngũ hành. - Mộc có Hợi - Mão - Mùi, đều tàng can mộc. - Hỏa có Dần - Ngọ - Tuất đều tàng can hỏa. - Kim có Tỵ - Dậu - Sửu đều tàng can kim. - Thủy có Thân - Tý - Thìn đều tàng can thủy.

Tứ sinh, tứ chính, tứ mộ tàng can âm dương khác nhau. Tất cả địa

chi đều có thể chứa thổ, nhưng nếu yếu quá thì không được tính - Các địa chi tứ sinh, các can tàng đều là dương: Dần, Thân, Tỵ Hợi; Tất cả các tàng can đều là dương. Mậu thổ đều tàng trong các can đó, nhưng ở Hợi thì Nhâm, Giáp quá mạnh, thổ quá yếu nên không được tính. - Các địa chi tứ chính, các can tàng đều là âm: Ngọ, Tý, Dậu, Mão: Các tàng can đều là can âm. Hành thổ: do bản khí quá mạnh, là hạt nhân của quá nhiều quan hệ củng cố bản khí nên khí thổ yếu không tính, trừ Ngọ, hỏa sinh thổ nên trong Ngọ chứa Kỷ thổ khác các can còn lại. - Các địa chi tứ mộ, ngoại trừ Thìn, Tuất tàng dương thổ, còn lại đều là can âm: Tuất, Thìn, Sửu, Mùi: Thìn, Tuất tàng Mậu là can dương, còn lại tất cả tàng can đều là can âm.

Phụ khí nào mạnh hơn phụ khí nào?

Về lý thuyết điều này có nhiều quan điểm trái chiều được đưa ra nhiều hơn người học phổ thông vẫn tưởng. Bản khí thường là mạnh nhất, điều đó có thể tin tưởng được. Nhưng có một thứ còn có thể mạnh không kém là khí của mùa, hay là khí trong tam hội, cuối cùng mới đến tàng can còn lại. Thậm chí phụ khí còn lại nếu bị khí của mùa tương khắc thì sẽ trở nên yếu hơn đáng kể. Ví dụ, can Mậu thổ trong tháng Dần mộc, bị mộc khắc,

can Canh kim trong tháng Tỵ hỏa, bị hỏa khắc, sẽ yếu hơn các phụ khí khác. Thủy trong Sửu thấp thổ, hỏa trong Mùi táo thổ tùy tổ hợp đôi khi còn thể hiện mạnh hơn cả bản khí. Các tàng can là Nhân nguyên, cùng các địa chi là Địa nguyên là chỗ dựa cho các thiên can, giống như kho tàng tích trữ nguồn lực cung cấp cho các thiên can trong bát tự. Năng lượng của những tàng can này không phải lúc nào cũng ổn định, đôi khi được kích động tăng lên, đôi khi bị triệt tiêu bởi tình trạng của địa chi bao chứa chúng. Những tàng can thường chỉ đóng vai trò hỗ trợ các thiên can chứ không thường trực tiếp tham gia vận hành bát tự, nhưng một số tình huống lại có thể có ảnh hưởng mạnh mẽ có thể lấn át cả các thiên can không có thực lực mạnh. Khả năng được kích động hay bị triệt tiêu phụ thuộc vào sự kết nhóm - hội, hợp của các địa chi trong bát tự.

Chương 7 — Sự mạnh yếu của các thiên can, địa chi

Quan hệ sinh khắc ngũ hành là cơ chế liên kết - tương tác chính của các can chi trong bát tự, nên việc xác định các can chi có tính ngũ hành mạnh hay yếu là một trong những yếu tố đóng vai trò quyết định kết quả tốt, xấu. Xác định sự mạnh yếu của can chi qua hai yếu tố: lượng và chất. “Lượng” là sự xuất hiện nhiều ít của các can chi khác hỗ trợ, còn “chất” thì quyết định bởi 2 yếu tố: sự vượng suy tính theo chi tháng và can có gốc hay không. Chất

Lượng

Sự vượng suy của ngũ hành nói chung (cả can và chi)

Số lượng, khả năng kết nhóm của các địa chi

Ngũ hành có can thấu có tính hoạt Số lượng các can có gốc và can động mạnh hơn ngũ hành không có không có gốc can thấu

Tổng hợp chất và lượng trong bát tự: Can có gốc mạnh và gốc trung bình sẽ mạnh hơn các nhóm địa chi không có can thấu. Can có gốc yếu thì chưa chắc đã mạnh hơn các nhóm địa chi mạnh. Can không gốc thì yếu hơn nhiều so với các nhóm địa chi.

Sự vượng suy cơ bản của ngũ hành và vai trò đề cương của chi

tháng Chi tháng hay còn gọi nguyệt lệnh, lệnh tháng, trong cả Bói dịch và Tử Bình đều là đề cương quyết định sự vượng suy của ngũ hành. Về cơ bản Ngũ hành cùng hành với nguyệt lệnh là vượng, được lệnh tháng sinh là tướng, sinh cho lệnh tháng là hưu, khắc lệnh tháng là tù, bị lệnh tháng khắc là tử. Lệnh tháng giống như một ông vua cai trị trong khoảng thời gian nhất định. Tuy nhiên trên thực tế áp dụng thì địa chi có nhiều tính chất phức tạp nên nhiều nhà nghiên cứu cho rằng cần có một chút sự điều chỉnh cho hợp lý. Dựa trên nghiệm lý tôi có đề xuất một số điều chỉnh như bảng dưới đây.

Tại Sửu, Thìn tuy là thổ nhưng là thổ mùa đông, mùa xuân tàng thủy, mộc nên tính thổ cũng giảm xuống, tính thủy mộc tăng lên. Tại Mùi tương tự, tính hỏa cần tăng lên. Tại các tháng là trường sinh của ngũ hành thì cũng sẽ sinh trợ cho ngũ hành đó mạnh hơn các tháng chính khí. Ngoài ra mỗi địa chi với lệnh tháng lại có thể mang một số tương tác đặc thù như hợp, xung, hình hại... ta cũng cần dựa vào đó để điều chỉnh cho hợp lý. Cùng số lượng tương đương, thậm chí phe vượng tướng ít hơn một chút thì cũng vẫn mạnh hơn phe còn lại, còn phe hưu tù tử hơn hẳn về số lượng thì sẽ mạnh hơn. Ví dụ: 2 Hợi thủy vượng mạnh hơn hẳn nhóm hỏa.

Nhưng đôi khi một vượng đơn độc lại không đấu lại nhiều tù. Ví dụ mộc hỏa vượng không đấu nổi thổ kim mạnh.

Tính kết nhóm, hội hợp của địa chi

Hai địa chi trở nên có cùng một ngũ hành tạo thành nhóm địa chi ngũ hành đó, ví dụ Dần và Mão tạo nhóm mộc, ngoài ra nếu có địa chi có tính sinh trợ mạnh thì cũng coi là tạo nhóm, ví dụ như Dần và Hợi thành nhóm mộc. Các địa chi bán hợp, bán hội cũng có thể hình thành 1 nhóm địa chi ngũ hành, ví dụ Mão Mùi thành nhóm mộc, Tỵ, Mùi thành nhóm hỏa, Thân, Tuất thành nhóm kim...

Các yếu tố gây suy yếu

Bên cạnh việc kết nhóm, các địa chi còn gây phá hoại

cản trở nhau bởi chúng mang những tính chất trái ngược theo 2 quan hệ mâu thuẫn lớn nhất là xung và khắc, ngoài ra còn kết hợp với những tính chất khác của địa chi có thể tăng mức gây hại lớn hơn. Xung là quan hệ mâu thuẫn gay gắt nhất của các cặp địa chi

Khắc: các địa chi mang tính ngũ hành tương khắc nhau sẽ khắc nhau. Ví dụ Hợi hành thủy sẽ khắc Ngọ hành hỏa. Phản khắc: không phải cứ bị khắc là sẽ bị suy yếu, nếu hành bị khắc có lực mạnh hơn hành đi khắc thì hành đi khắc mới là hành bị tổn thương nặng nề. Ví dụ:

Mão mộc khắc Tuất thổ nhưng Tuất được hỏa thổ sinh trợ mà mạnh mẽ, thành ra Tuất làm tổn hại năng lực của Mão mộc. Phản sinh: không phải cứ sinh là tốt, ngũ hành đi sinh quá mạnh, còn ngũ hành được sinh quá yếu cũng gây tổn hại cho đối tượng được sinh. Ví dụ một bát tự trong sách, dụng thần là kim mà thổ nhiều chôn vùi kim yếu, dẫn đến nghèo khổ như sau:

Hợp khắc, hợp phản khắc: không phải cứ phát sinh quan hệ hợp là tốt, hợp cũng như trói buộc lại với nhau, nếu phát sinh mâu thuẫn thể hiện qua tính ngũ hành thì có thể kẻ mạnh sẽ khống chế kẻ yếu. Ví dụ cặp chi Tỵ - Thân trong hợp có hình khắc phá, Mùi - Hợi trong hợp có khắc, nếu Hợi mạnh hơn thì Mùi sẽ tổn thương nặng, nếu Mùi mạnh hơn thì Hợi sẽ bị vừa hợp vừa khắc.

Hình ở địa chi:

4 cặp địa chi dưới thì cần nghiên cứu thêm các trường hợp phát sinh hình và không phát sinh hình, không nên vội vàng áp dụng. Một số thập thần như Chính Quan, Thất Sát khá kỵ gặp hình. Một số thập thần khác thì hình kết hợp khắc thì mới đáng ngại. Ví dụ:

Dần và Tỵ hình nhau dẫn đến mộc không sinh hỏa, vận Dần, năm Dần mất. Xem phần ví dụ Monroe. Khắc kết hợp hình, phá, hại. Khắc tuy là xấu rồi, nhưng khắc kết hợp các quan hệ khác có thể gây tổn hại còn mạnh hơn.

Với các cặp tương hại thì nên chú ý tới cặp Tý - Mùi vừa hại vừa tương khắc nhau, Mùi gây xấu cho Tý trong khi Tý cũng gây xấu cho Mùi; cặp Sửu - Ngọ, Sửu tuy thổ nhưng là thấp thổ, nên Sửu Ngọ cũng đối lập mạnh với nhau; Mão Thìn vừa hại vừa khắc; Dần - Tỵ vừa hại vừa hình. Còn lại Dậu - Tuất, Thân - Hợi không nhiều khi thể hiện xấu.

Vị trí bố cục các địa chi ảnh hưởng tới các quan hệ

(1) Các địa chi ưu tiên tương tác với các địa chi gần cạnh và giảm bớt tương tác với các địa chi xa hơn. (2) Giữa 2 địa chi cách xa 1, 2 trụ thì còn bị ảnh hưởng bởi địa chi ở giữa. 2 điều này dẫn đến các địa chi tuy có tính kết nhóm mà đôi khi không thể kết nhóm được hay có tính xung khắc nhau mà không thể xung khắc được. Ví dụ bát tự dưới đây, trụ giờ và trụ năm bán hợp nhưng bị suy yếu bởi trụ tháng và trụ ngày xung khắc.

Bát tự công nương Diana xứ Wales (Anh Quốc), Sửu và Dậu tuy bán hội kim nhưng khoảng cách xa lại bị Ngọ Mùi ở giữa ngăn cách làm suy yếu đi. Đại vận hỗ trợ kim thì vẫn có thể tạo được sự kết nối, nhưng hết vận đó lại bị chia tách, đến hành vận hỗ trợ hỏa và táo thổ mạnh thì do kim bị cô lập nên bị phá hoại nghiêm trọng. Xem mệnh lý mẫu số 8 trong chương 21. Khi các chi xen lẫn tương khắc nhau tạo nên một thế cục tương chiến phức tạp, khi đó lại xem xét lực lượng thiên can có hỗ trợ địa chi không để xét chúng song song cùng tồn tại hoặc một phe bị lấn át. Ví dụ: Kỷ Tỵ - Nhâm Thân - Mậu Ngọ - Quý Sửu, hỏa đan xen cùng kim và thấp thổ.

Hỏa thổ kim tương chiến mãnh liệt song song cùng tồn tại. Ví dụ: Đinh Tỵ - Mậu Thân - Mậu Ngọ - Quý Sửu

Cũng cùng tổ hợp hỏa đan xen với kim - thấp thổ, nhưng do thiên can có nhiều hỏa thổ nên hỏa thổ lấn át kim thủy.

Thiên can có thể hỗ trợ địa chi

Một can có gốc có thể hỗ trợ địa chi trong cùng 1 trụ hoặc gần đó với giá trị trợ lực yếu hơn, nhưng 1 can không có gốc thì không hỗ trợ được.

Ví dụ: Bát tự Bill Gates Ất Mùi - Bính Tuất - Nhâm Tuất - Tân Hợi

Tuất thành đảng mạnh khắc Hợi, nhưng Tân có gốc tọa cùng trụ tương sinh dẫn đến thổ sinh kim, kim sinh thủy cuối cùng Hợi thủy được bảo tồn. Bát tự dưới đây cũng tương tự, nhưng Tân kim trụ giờ là can hư phù không gốc, nên không thể cứu nổi Hợi thủy, cả 2 đều bất cập. Ví dụ: Năm Quý X - Kỷ Mùi - Nhâm Ngọ - Tân Hợi

Tân kim không có gốc không thể sinh trợ cho Hợi. Hai ví dụ trên cho ta thấy giữa 1 can có gốc và 1 can

không có gốc có sự khác biệt lớn về năng lực. Phần tiếp theo chúng ta sẽ tìm hiểu thế nào là can có gốc, và các tình trạng mạnh yếu của gốc thiên can.

Thiên can có gốc và thiên can không có gốc

Can hay can thấu xuất trên 4 trụ để phân biệt với các tàng can, giống như bộ phận xử lý chuyện nghiệp, tinh vi nhưng cần được cung cấp năng lượng phù hợp ở dưới địa chi để hoạt động. Can có gốc thì hoạt động ổn định, tham gia thuận lợi vào các hoạt động của bát tự, can không có gốc thì hoạt động bất ổn, chỉ mạnh khi gặp vận bổ trợ gốc, còn lại thì rất yếu. Đó là lý do luôn cần xác định 1 can trong bát tự là có gốc hay không.

Các địa chi có tàng can cùng ngũ hành với thiên can có thể cung cấp năng lượng phù hợp cho thiên can đó. Nếu can gặp các địa chi phù hợp thì là can có gốc, can không có địa chi phù hợp thì là không có gốc. Ngoài ra cũng cần các chi phù hợp ở phạm vi gần gũi nhất định, quá xa thì cũng không hỗ trợ được. Nhưng không phải chi nào tàng gốc của can cũng có thể là gốc mạnh của can đó như trong bảng kê bên dưới. Để các bạn tiện theo dõi, tôi chia ra một số cấp như sau: 1 - Gốc tốt nhất: các chi có ngũ hành chủ khí chính là can đó. 2 - Gốc tốt: các chi có ngũ hành chủ khí cùng ngũ hành của can đó. 3 - Gốc ổn: các chi có thể hỗ trợ thuận lợi cao cho can đó 4 - Gốc ổn: nhưng có một số hạn chế, không thuận tiện như nhóm 3. 5 - Gốc yếu cần điều kiện: ví dụ Ất tại Mùi, Mùi tuy có tàng Ất nhưng lại là mộ của Ất, bản khí của Mùi là táo thổ, tương khắc với Ất mộc, nên Mùi hỗ trợ Ất không mạnh, nếu Ất Mùi cùng trụ thì khả năng Ất được hỗ trợ cao hơn, hoặc thấu nhiều can Giáp, Ất hoặc có địa chi Mão, Hợi bên dưới hình thành bán hợp mộc thì Mùi lại hỗ trợ Ất mạnh. Kim tại Tỵ cũng thế, tuy tính có gốc nhưng gốc rất yếu, nếu không được hỗ trợ. 5 (-) - còn hỗ trợ yếu hơn 5, Mậu tháng Dần nếu thấu Giáp Ất là bản khí của Dần thì Mậu sẽ gặp tổn thương nặng. Các can có chi cùng trụ là gốc thì tính ổn định của can đó càng cao (trừ chi trong nhóm 5 mà không đủ điều kiện). Nếu can trụ tháng là can có thể làm gốc thì cũng là một gốc ổn định. Nếu chi gốc không ở cùng trụ, không ở trụ tháng mà ở trụ

bên cạnh thì cần phải là địa chi có lực mạnh, được sinh trợ, hoặc kết nhóm thì có thể là gốc ổn định, nếu không là gốc yếu, thậm chí rất yếu gần như không có gốc. Nếu chi gốc ở cách 1 trụ, lại là chi yếu, hoặc bị chi khác ngăn cách không thể kết nối thì cũng là gốc rất yếu, có thể coi như không có gốc. Phân loại cấp độ gốc của can chi:

Sự mạnh yếu của các Thiên Can

Từ tình trạng gốc ta xác định được một thiên can là mạnh hay yếu, từ đó xác định can đó có thể hoạt động tốt, ổn định, hay yếu, có khả năng tham gia tốt vào các quan hệ ngũ hành hay không, có nhạy cảm trước các quan hệ tương khắc hay không. + Can không có gốc thì dù có nhiều vẫn yếu: Can không có gốc hay còn gọi là can hư phù, là can không có chi nào trong phạm vi gần đủ để làm gốc. Ví dụ ở chương 2 ta đã nhắc đến 1 bát tự tuy có 4 can cùng ngũ hành với Nhật chủ mà không có gốc nên vẫn phải thành tòng cách như sau: Nữ mệnh: Ất Dậu - Ất Dậu - Ất Dậu - Ất Dậu (nguồn Uyên Hải Tử Bình - Hỷ Kỵ Thiên)

4 can Ất mộc mà không có 1 địa chi mộc nào làm gốc cũng là 4 can hư phù không có lực, phải tòng theo thế kim mà vận động, xem thêm phần tòng cách và Thất Sát cách. + Can gốc ổn định và can có gốc mạnh: Can có 1 chi gốc ổn định mà không bị xung phá thì là 1 can ổn định, can có nhiều chi gốc là can có gốc mạnh, hoặc chỉ có 1 chi mà chi đó là nguyệt lệnh thì cũng có thể thành 1 can tương đối mạnh, hoặc khi có các chi hội hợp thành cục của ngũ hành can đó thì cũng là can có gốc mạnh. Ví dụ: Ất Mùi - Bính Tuất - Nhâm Tuất - Tân Hợi

Tân có 2 địa chi Tuất có thể làm gốc, trong đó Tuất là nguyệt lệnh, Tân là khí mùa tại tháng Tuất, nên Tân có gốc rất mạnh, Bính hỏa có 3 chi gốc là Mùi, Tuất, Tuất cũng là can có gốc mạnh, Ất tại Mùi thì gốc không mạnh lắm, Mùi Hợi ở xa nhau tuy bán hợp cũng không có tương tác nhiều, Nhâm có gốc tại Hợi bị khắc nhiều nên cũng không phải là gốc mạnh. + Can có nguy cơ thái quá: Can gốc mạnh mà lại xuất hiện can khác cùng ngũ hành thì là có nguy cơ thái quá,

bất ổn. Khi đó tùy vào việc chủ khí của các chi gốc có cường vượng hay không mà thực sự thái quá hay không. Can là đầu tàu dẫn dắt đoàn tàu là ngũ hành tại địa chi, nếu có 2 can thì có nguy cơ trở thành sự phát triển hỗn loạn, khó điều hướng. Ví dụ bát tự dưới đây Nhâm Thân - Nhâm Tý - Giáp Tý - Tân Mùi

Địa chi có Thân Tý bán hợp thủy rất mạnh, Tý là chi tháng nắm lệnh vượng khí, thiên can lại thấu 2 can Nhâm thủy, đây là cách cục Kiêu thần thủy vượng thái quá, có nguy cơ cuốn trôi mộc, mệnh chủ các năm Hợi, Tý thường kém cả về hôn nhân và tiền bạc.

Quan hệ hợp giữa 2 thiên can

Các thiên can cách nhau 5 vị trí hình thành 1 cặp can hợp. Theo quy tắc tính giờ trong ngày thì ngày Giáp sẽ bắt đầu từ giờ Giáp Tý kết thúc ở giờ Ất Hợi, cứ 60 vòng can chi giờ thì sẽ lặp lại từ đầu, vì vậy cách 5 ngày sau, ngày Kỷ cũng sẽ bắt đầu từ Giáp Tý và kết thúc ở Ất Hợi, tức là

can chi giờ các ngày Giáp - Kỷ sẽ hoàn toàn giống nhau. Các cặp can hợp khác cũng có điểm chung như thế, hay các năm có thiên can tương hợp thì can chi các tháng cũng giống nhau. Sự xuất hiện đồng thời của các can này trong bát tự có thể tạo một sự liên đới giữa 2 can. Chúng cũng sẽ có tương tác với nhau mạnh hơn so với các can khác, nhưng vẫn phải ảnh hưởng theo bố cục, can giờ và can năm dù hợp nhau mà các can đứng giữa ngăn cách thì liên kết cũng không đáng kể.

Có nhiều hơn 1 lý thuyết nói về điều kiện của sự hợp, khi tìm kiếm thông tin và tham khảo các nhà nghiên cứu khác về các lý luận nguồn gốc liên quan đến phép hợp này thì thấy rằng tính hóa khí của chúng không rõ ràng. Điều đó giải thích cho việc các phái tự đặt các điều kiện để 2 can hợp hóa khí khác nhau, không thống nhất. Nên chúng ta hình dung như sau: hợp là sự liên kết, trói buộc, như cái duyên liên kết 2 người xa lạ trở thành thân thiết, nhưng can hợp luôn diễn ra giữa những can tương khắc, vì vậy chúng sẽ cần phải thống nhất cùng phát triển theo hướng can mạnh hơn. Ví dụ Mậu Quý hợp, nếu

Quý mạnh thì Mậu sẽ phải từ bỏ bản ngã của mình để theo Quý, nếu cả 2 cùng mạnh sẽ giằng co nhau như các can tương khắc khác. Hợp khắc và Hợp phản khắc là một trong những phương thức hiệu quả để triệt tiêu 1 can có xu hướng trái ngược. Can Nhật chủ có can khác hợp thường là tốt, bởi can hợp với Nhật chủ chỉ có 1 trong 2 thần thôi, 1 là Chính Quan, 2 là Chính Tài đều là cát thần cả. Ví dụ để nghiệm chứng như sau: Bát tự Thái tử Anh Quốc Charles Mậu Tý - Quý Hợi - Quý Mão - Quý Hợi

Nguyệt lệnh Kiếp Tài, toàn cục thủy quá vượng, đây là cách tòng cường, toàn cục vận hành theo khí thủy, Mậu thổ vốn là kỵ thần nhưng không có gốc tại trụ năm, lại bị Quý thủy hợp chế thành Cát, toàn cục cơ bản là ổn. Xem thêm phần tòng cường cách. Hay Đinh Nhâm vốn hợp hóa mộc trong mùa xuân (có sách viết để hóa khí phải cần được lệnh tháng đúng khí ấy) nhưng cũng không thấy dấu hiệu hóa hợp như sau: Nam mệnh Đinh Mùi - Nhâm Dần - Ất Mão - Bính Tuất

Nếu Đinh Nhâm hợp hóa mộc, thì tại lệnh tháng Dần mộc, Đinh trụ năm đứng cạnh Nhâm trụ tháng về lý là đủ điều kiện hóa mộc, khiến cho mộc khí tăng vượng.

Nhưng thực ra vẫn là hỏa nhiều sinh thổ tiết khí của mộc. Đinh hợp Nhâm không phải là hóa mộc trái lại còn là Đinh khống chế Nhâm không sinh mộc. Mệnh chủ bị Thực Thương tiết khí quá độ sinh tâm bệnh, tâm lý bất ổn, trầm cảm. Lại còn làm về nghệ thuật sáng tác, biểu diễn càng khiến Thực Thương mạnh. Xem thêm ở cách cục nguyệt lệnh Tỷ Kiếp. Bát tự trên của ca sĩ người Mỹ, Kurt Cobain, thành danh từ vận Tý, mất năm Giáp Tuất vận Kỷ Hợi, Giáp bị Kỷ trói buộc, Tuất cùng Kỷ làm thổ tính tăng thêm.

Yếu tố bố cục cũng ảnh hưởng lớn tới thiên can

Tương tự địa chi, thiên can cũng tương tác nhau mạnh yếu khác nhau với các can chi gần xa (1) Các thiên can ưu tiên tương tác với các thiên can gần cạnh và giảm bớt tương tác với các thiên can xa hơn. (2) Giữa 2 thiên can cách xa 1, 2 trụ thì còn bị ảnh hưởng bởi thiên can ở giữa. Tổng hợp tính mạnh yếu của các can chi ta sẽ có cái nhìn tổng quát về các lực lượng tạo nên xu hướng vận động trong bát tự.

Chương 8 — Các quan hệ ngũ hành đặc biệt trong bát tự

Luận bát tự thì ta cần nhận thức rằng các quan hệ ngũ hành trong bát tự ở một mức độ khá phức tạp, không phải cứ kim khắc mộc, mộc khắc thổ... nữa, mà đó đều là những quan hệ mâu thuẫn, cần thêm điều kiện mới biết phe nào chiếm ưu thế.

Thông thường phe đi khắc chiếm ưu thế, nhưng phe bị khắc nếu đủ mạnh sẽ tồn tại đối kháng song song, nếu phe bị khắc mạnh hơn sẽ lật đổ, và giáng cho phe khắc những đòn chí mạng. Đây là một trong số lý do khiến quá trình xác định độ mạnh yếu của các can chi trở nên rất quan trọng. Khi can chi quá yếu thì không chỉ quá trình bị khắc mới làm chúng bị tổn thương, mà quá trình đi khắc, đi sinh, thậm chí được sinh cũng khiến chúng chịu tác động tiêu cực. Hay là khi chúng quá mạnh thì các quan hệ tương khắc lại khiến chúng cảm thấy dễ chịu như được vật lý trị liệu vậy. (Đây là một trong những thứ người đọc sách sẽ nghĩ: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi”. Nhưng rất nhiều tổ hợp biến cách, ngoại cách, biến hóa trong luận hành vận, nguyên lý động tĩnh... đều ở đây cả.) Nếu cứ sinh là tốt, khắc là xấu, thì đến với Bát tự Tử Bình có thể thấy kim “sinh” mộc, hỏa “khắc” thổ là điều mà chúng ta cần làm quen.

“Vượng giả xung suy, suy giả bạt - Suy thần xung vượng, vượng

thần phát.” Đây là một câu trích trong sách Trích Thiên Tủy. Đại ý: can chi vượng xung khắc can chi suy, thì phe suy (suy giả) sẽ không chống đỡ nổi, thậm chí phe can chi vượng gặp vận bị xung khắc không những không bị yếu đi mà lại có động lực mạnh mẽ. Quay lại ví dụ đầu tiên của chúng ta, bát tự của ông Trump và 1 người cùng giờ.

Bính Tuất - Giáp Ngọ - Kỷ Mùi - Kỷ Tỵ

Ta có thể thấy khí hỏa thổ rất mạnh, hỏa xuất hiện đủ tam hội Tỵ, Ngọ, Mùi, thổ thấu 2 can, có 2 chi Mùi, Tuất. Nên đây là loại mệnh cách tòng cường, tòng theo thế Nhật chủ cường vượng. Dụng thần là Ấn Kiêu, Tỷ Kiếp hành hỏa, thổ.

Đại vận của Trump và Levitte

Vậy tại sao đến các vận Kỷ Hợi, Canh Tý, Tân Sửu là kim thủy, thấp thổ mà sự nghiệp cả 2 lại vẫn phát triển? (Với Trump thì lần hao tán lớn nhất trong đại vận trước đó, và một số lần bảo hộ phá sản cho công ty con không đại diện cho tổng thể phát triển chung.) Đó là bởi hỏa thổ quá vượng, thủy đến tương khắc ứng với câu: “Suy thần xung vượng, vượng thần phát” ở trên.

Các trạng thái xung đột giữa các nhóm can chi

  • Phe khắc mạnh hơn, hoặc mạnh tương đương so với phe bị khắc: phe bị khắc suy yếu, bị khống chế, triệt tiêu, tùy thuộc vào độ chênh lệch mạnh yếu giữa hai bên. Ví dụ bát tự Warrent Buffet Canh Ngọ - Giáp Thân - Nhâm Tý - Đinh Mùi

Dụng thần là Thiên Ấn Canh kim, Đinh hỏa Tài tinh là kỵ thần, Đinh có gốc tại Ngọ, Mùi bị Thân Tý bán hợp thủy xung khắc, Tý hại Mùi phá hết gốc hỏa, Đinh thiên can hư phù bị chính Nhật chủ hợp khắc nên kỵ thần tuy có gốc mà không có lực khắc dụng thần. Thực Thần Giáp mộc vốn có thể sinh Tài nhưng đứng cạnh là can Canh kim khắc mộc, nên Giáp cũng bị khuất phục hoàn toàn, những vận gặp mộc hỏa (không quá mạnh) trở thành thời điểm “suy xung vượng” tài chính thuận lợi.

  • Phe khắc yếu hơn so với phe bị khắc: phe khắc bị suy yếu, nhưng đến vận làm phe khắc mạnh hơn sẽ gây khó khăn cho phe bị khắc Bát tự Bill Gates: Ất Mùi - Bính Tuất - Nhâm Tuất - Tân Hợi

Dụng thần Tân kim bị can Bính hỏa trụ tháng hợp khắc, tuy nhiên Tân mạnh hơn Bính lại có Nhật chủ đứng giữa khiến Bính không khắc nổi Tân. Nhưng vận Ngọ (1997 - 2002), bán hợp hỏa với Tuất có lực trợ Bính, vận này phải xử lý các vấn đề liên quan đến vụ kiện độc quyền, cản trở đà phát triển. + Phe đi khắc quá mạnh, còn phe bị khắc quá yếu: hiện tượng “phản đi khắc” sẽ không khắc cho đến khi phe bị khắc trở nên mạnh. + Phe đi sinh quá mạnh, phe được sinh quá yếu: hiện tượng phản sinh, Trích Thiên Tủy gọi là “Mẫu từ diệt tử”, phe đi sinh quá mạnh dẫn đến phe được sinh bị triệt tiêu.

Vừa hợp vừa khắc

Một số sách có nhắc đến hiện tượng “tham hợp quên sinh” hay “tham hợp quên khắc”. Tôi vẫn trung thành với quan điểm cho rằng, hợp là ràng buộc, nếu có kẻ mạnh hẳn thì theo kẻ đó, nếu không có phe nào mạnh hẳn hay phe nào yếu hẳn thì tùy theo mức độ mạnh yếu chênh lệch mà mâu thuẫn diễn ra căng thẳng nhiều hay ít. Cũng như vợ chồng, tùy mức độ ngoan cố của đôi bên mà cãi nhau thường xuyên hay không thường xuyên. Bát tự nghiên cứu cuộc sống, mô phỏng theo cuộc sống chứ không phải công thức hóa cuộc sống. Nên trong một quan hệ ngũ hành phức tạp không phải lúc nào cũng là trắng hay đen, sinh hay khắc, mà còn cả nửa trắng, nửa đen hay cả xám nữa. Khi vừa hợp vừa khắc thì có thể can chi phát sinh cả 2 quan hệ này trong những điều kiện khác nhau chứ không phải chỉ lựa chọn 1 trong 2. Ví dụ nữ mệnh: Quý Tỵ - Ất Sửu - Ất Dậu - Mậu Dần

Dụng thần Tài Sát thổ kim, kỵ thần là Thương Kiếp mộc hỏa. Tỵ hỏa Thương Quan tham gia tam hợp Tỵ Dậu Sửu, góp phần củng cố cho kim khắc mộc, nhưng bản thân lại được mộc sinh, tàng hỏa khắc kim. Tỵ là trụ năm, thời thơ ấu, kỵ thần trụ năm thời thơ ấu không hạnh phúc (xem chương 4 - Con người trong bát tự) lại gặp vận Bính Dần, Tỵ hối hỏa theo Bính khắc Dậu, cả trụ vận, đại vận đều xấu: tuổi thơ sống trong hoàn cảnh khó khăn, bị lạm dụng tình dục, dẫn đến về sau gặp những trở ngại trong hôn nhân, không muốn kết hôn, có con. Đây là một trong số nhiều nghiệm lý của tôi cho thấy địa chi hay thiên can đều có những tính chất riêng không dễ dàng xóa bỏ kể cả khi tham gia các quan hệ hội, hợp. Tôi vẫn tôn trọng những quan điểm vì chúng có thể đúng trong hoàn cảnh nào đó. Nhưng tôi cho rằng cách lý luận này linh hoạt và có tính phổ quát cao hơn. Các kiến thức trong chương này thường xuyên được sử dụng trong quá trình phân tích bát tự và hành vận, được minh họa thêm ở những chương sau. Vậy là khi bạn nắm được các mô hình mô tả con người trong bát tự; các thành phần thập thần tàng, thấu trong bát tự; tính toán ước lượng được sự mạnh yếu của các can chi trong bát tự (quan trọng hơn là các can); hiểu được một số quy tắc khác biệt trong ứng dụng ngũ hành; thì chúng ta có thể bắt đầu với đến với các bước luận đoán quan trọng tiếp theo: xác định cách cục, tìm dụng thần, luận hành vận.

Chương 9 — Định cách cục

Cách cục được các học giả mệnh lý học xây dựng để thuận tiện nghiên cứu, mục đích của việc xây dựng cách cục là để tìm hiểu xu hướng vận hành của toàn thể bát tự. Vì thế người học cần cố gắng dựa trên các cách cục để hiểu nguyên lý vận hành chứ không cố gắng ghi nhớ chúng. Luận bát tự tốt hay xấu giống như bạn thưởng thức một bữa ăn ngon hay không vậy, cách cục là bản hướng dẫn xem bạn cần chú ý vào món ăn nào.

Nếu cả bữa ăn chỉ có 1 món chính, thì bạn chỉ cần chú ý đến món ấy, món chính ngon thì cả bữa ăn ngon (nguyên tắc 1). Nếu bữa ăn có nhiều món chính, bữa ăn lại trở thành sự tổng hòa của tất cả các món ở trên bàn ăn, nếu các món kết hợp hài hòa hợp khẩu vị thì tốt, không thì xấu, thì bạn cần chú ý vào món được bày trang trọng nhất hoặc được xuất hiện nhiều nhất (nguyên tắc 2). Nhưng đôi khi bàn ăn lại xuất hiện một món rất đắt tiền, hoặc chế biến cầu kỳ công phu, bạn cần chú ý vào nó (nguyên tắc 3). Nếu có dấu hiệu đặc biệt xuất hiện ở trụ giờ, đừng vội ăn quá no, vì món đặc biệt có thể xuất hiện sau cùng (nguyên tắc 4). Các quy tắc này có liên hệ mật thiết tới vai trò của các can chi mô tả con người trong như đã được nhắc tới ở chương 4. Và rồi khi biết cần phân tích món ăn gì, ta sẽ biết nguyên liệu chính là gì, có được gia giảm, chế biến phù hợp hay không. Mục đích chính của việc định cách cục là tìm ra thần trung tâm của cách cục đó, rồi xem thần đó là cát thần hay hung thần, tiếp đó xem có thần khác tương tác cùng để phát huy cái tốt của cát thần hay chế hóa cái xấu của hung thần hợp lý hay không, từ đó biết tổ hợp bát tự là tốt hay xấu.

Hình dung ra sự tổng hợp của 8 đối tượng

Trường phái cách cục hay cả trường phái cân bằng vượng suy của Nhật chủ được xây dựng đều có chung một mục đích là tìm hiểu xu hướng vận hành chung của bát tự.

Nhưng chúng ta cần hiểu rằng sự vận hành chung của bát tự không chỉ do một vài can chi quyết định, mà xu hướng này hình thành từ 8 can chi, mỗi can chi giống như một thực thể độc lập nhỏ, có vận động riêng, đặc tính riêng, xu thế vận động riêng. Chúng có thể kết thành 1 nhóm chung, hay tách rời thành cách nhóm nhỏ theo cách thức kết nhóm, hội hợp hay triệt tiêu nhau như đã nói đến ở chương 7. Tùy vào mỗi nhóm tổ hợp, bát tự có thể tồn tại một xu hướng chính hay nhiều xu hướng nhỏ của can chi. Luận bát tự xưa nay vẫn luôn là tìm ra giải pháp phân tích để hiểu các xu hướng này. Nhưng 8 can chi hình thành 1 tập thể phức tạp, vì thế không thể phân tích bằng 1 công thức đơn giản được, phương pháp nào càng đơn giản thì càng khiếm khuyết. Nên buộc phải xây dựng nhiều cách cục để thuận tiện hơn cho quá trình truyền đạt và nghiên cứu. Vì thế cần hiểu rằng cách cục là ngón tay chỉ, chứ không phải đích đến. Cách cục luôn là trọng tâm trong các tài liệu Bát tự Tử Bình truyền thống, tuy nhiên chúng ta nghiên cứu không nên chỉ có học thuộc để tìm cách áp dụng, mà còn phải tìm cách phân tích suy luận các cách cục được xây dựng dựa trên lý thuyết nền tảng nào, vận dụng tốt nhất trong các tình huống thế nào, trên thực tế có những tổ hợp nào không thể xếp loại các cách cục đó hay không. Số lượng tổ hợp xuất hiện trong bát tự là rất lớn, cần phải tìm về nguyên tắc mới có thể vận dụng linh hoạt được, hạn chế học vẹt. Số lượng cách cục trong sách Tử Bình từ xưa thực ra khá nhiều, trong đó có những cách dần dần bị loại bỏ do không thể hiện được hiệu quả cũng như không có tính lý

luận từ kiến thức nền tảng. Ngoài ra, có nhiều dạng cách cục tuy được phân chia khác biệt nhưng cơ bản vận hành tương tự nhau, điều kiện thành cách tốt, cách xấu tương tự nhau, hoặc khác biệt rất nhỏ, những cách này có thể gộp chung lại để nghiên cứu. Để giúp người học dễ dàng phân nhóm cách cục và nhìn nhận các xu hướng vận hành trong bát tự, tôi tổng hợp lại thành 2 nguyên tắc chính, và 2 nguyên tắc phụ như sau.

Bốn nguyên tắc định cách cục

Luận bát tự tốt hay không cũng giống như việc đánh giá một bữa ăn có ngon hay không vậy, đầu tiên là nếu bữa ăn chỉ có 1 món chính, thì ta đánh giá bữa ăn đó qua món chính này. Nếu bữa ăn có nhiều món, mỗi món lại có hương vị chức năng riêng thì ta phải xem món nào là món chính, thường là có thể có 1 món chính và 1 số món phụ, chủ yếu ta xem món chính có ngon không, nếu món chính mà ngon, món phụ dở tý cũng không sao. Cũng có khi bữa ăn đa dạng với 2, 3 món chính, thì lại phải chọn 1 món chủ đạo, hoặc ăn lần lượt tất cả các món này rồi nhận xét xem tổng thể bữa ăn có ngon không. + Nguyên tắc thứ nhất: Khi có một ngũ hành mạnh áp đảo trong bát tự thì luận bát tự xoay quanh ngũ hành đó. Can thập thần mang ngũ hành chủ đạo trở thành trung tâm của cách cục. Hình thành các cách cục theo nguyên tắc này gọi là tòng cách, nếu ngũ hành đó tương sinh hoặc tỷ hòa với Nhật chủ và Nhật chủ có gốc mạnh thì thành cách tòng cường. Nếu không sinh trợ cho Nhật chủ và Nhật chủ không gốc

hoặc gốc rất yếu thì hình thành cách tòng nhược. Can thập thần mang ngũ hành chủ đạo trở thành trung tâm của cách cục. Khi chúng ta xác định được các xu hướng hay là các khí thế của can chi trong bát tự thì hầu hết tình huống chúng ta sẽ nhận được các xu hướng pha trộn hỗn tạp của 2, 3, 4 nhóm chủ đạo, nhưng có những tình huống cả bát tự chủ yếu chỉ có 1 nhóm chủ đạo thôi, phân loại nhóm bất thường này trước, thì còn lại sẽ là nhóm bình thường. Nhiều tài liệu tiếp cận khái niệm tòng cách là một loại ngoại cách bất quy tắc, thực tế chúng phù hợp với các lý luận nền tảng lý thuyết biến động của âm dương, là trạng thái thái âm, thái dương chuẩn bị chuyển hóa, thành phần chi phối toàn thể đại diện xu hướng phát triển của toàn thể. + Nguyên tắc thứ hai: “Dụng thần chuyên cầu nguyệt lệnh” - Chi tháng đóng vai trò trọng yếu trong việc hình thành cách cục. Thập thần chủ khí trong chi tháng hoặc thập thần thấu can được chủ khí chi tháng hỗ trợ trở thành hạt nhân của cách cục. Phần bên trong là phần lõi của bát tự, là trụ tháng và trụ ngày. Phần trọng yếu của trụ tháng ở tại chi, chức năng chính của trụ ngày ở tại can. Chi tháng là đề cương ngũ hành, là trung tâm thu nhận, tích trữ năng lượng, can ngày là trung tâm kiểm soát, điều chỉnh, trung tâm phân tích, lý luận (Xem chương 4). Chi tháng, và quan hệ giữa can ngày và chi tháng là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình định cách cục và là điểm đầu tiên cần xét khi định cách cục. Từ dưới lên trên, Địa nguyên, Nhân nguyên, Thiên

nguyên hình thành cách thế lực can chi liên kết với nhau qua quan hệ sinh trợ, hội, hợp như đã đề cập đến ở chương

và các thế lực này thể hiện chính qua tính chất ngũ hành

của chúng. Và khi một thế lực can chi quá mạnh thì sẽ thay thế chi tháng trở thành tiêu chuẩn để xét cách cục. Có 2 tình huống xảy ra tình trạng này, đều chỉ diễn ra khi chi tháng bị cô lập, không được sinh trợ: (1) Chi tháng bị cô lập, không được sinh trợ, tham gia vào quan hệ hội, hợp của các ngũ hành khác, khi này thì cách cục được xây dựng dựa trên ngũ hành được hợp thành này. (2) Chi tháng bị xung khắc hoặc hợp chế để hình thành các cách tòng cường hoặc tòng nhược. (Nguyên tắc 1) Lưu ý: một số sách thời sau như Tử Bình Chân Thuyên (thời Thanh) có nhắc nhiều đến việc sử dụng biến cách từ can thấu khá đa dạng, nhưng xem kỹ một số ví dụ minh họa trong chính sách đó sẽ thấy việc biến cách này không được áp dụng nhiều như phần lý thuyết đề cập. Trên đây là 2 nguyên tắc chính khi định cách cục, một số trường hợp chúng ta cũng cần tham khảo 2 nguyên lý sau có thể lập các cách cục phụ, bổ trợ cho các cách cục chính trong quá trình luận đoán. Thường thì các nguyên tắc thứ 3 và thứ 4 cùng nguyên tắc thứ 2 có thể cùng khai triển để đưa đến chung 1 kết quả giống nhau, cũng như các cách giải khác nhau của 1 bài toán vậy. Hoặc cách cục xác định từ nguyên tắc thứ 4 có thể cung cấp cho ta thêm thông tin tốt xấu về một lĩnh vực nào đó.

  • Nguyên tắc thứ ba: Chính Quan, Thất Sát khi có lực mạnh trở thành trung tâm cách cục. Chính Quan và Thất Sát là 2 trong số thập thần quan trọng nhất, đứng đầu thập thần, thường được lấy làm trung tâm khi xuất hiện trong bát tự. Nhất là với các nguyệt lệnh tương sinh với Quan, Sát như Tài tinh. Trong nhiều tài liệu thì không chỉ chi tháng là Chính Quan, hay Thất Sát, mà chỉ cần 1 trong 2 thần này thấu can, có gốc thì cũng được định là cách cục Chính Quan, hay cách cục Thất Sát. Tuy nhiên 2 thần này mà xuất hiện nhưng là các can hư phù không có gốc thì ảnh hưởng cũng không lớn. + Nguyên tắc thứ tư: thập thần trên can giờ cũng có thể đóng vai trò trung tâm của cách cục. Trụ giờ là thần quan trọng trong bát tự, chủ về hậu vận, kết quả sau cùng trong bát tự. Có một số thập thần đóng can giờ cần quan tâm như Chính Quan, Thất Sát, Tài tinh. Thường thì khi lấy can giờ làm trung tâm để luận mệnh cũng có thể đưa về kết quả tương tự như lấy thần liên quan đến trụ tháng làm trung tâm luận mệnh cho dù hai thần này khác nhau, bởi thần trụ giờ cần xem vượng suy tại trụ tháng, và thần lấy theo trụ tháng cũng cần xét chung cuộc tốt xấu ở trụ giờ. Nếu nguyên tắc thứ nhất không áp dụng được, nguyên tắc thứ hai, thứ ba áp dụng mà hỗn loạn, thì chúng ta có thể triển khai theo nguyên tắc thứ tư này.

Thập thần trung tâm của cách cục

Mỗi một thần trong số thập thần đều có tính chất riêng,

cũng như mỗi nguyên liệu cần có một cách chế biến riêng, có những nguyên liệu “lành tính” thì chế biến vụng một chút cũng thành món ăn được, còn có những nguyên liệu tàng ẩn “độc tính” thì cần có một quá trình chế biến kỹ lưỡng để đảm bảo “an toàn” khi sử dụng.

Các cát thần là Chính Quan, Chính Tài, Thiên Tài, Chính Ấn, Thiên Ấn là những món “lành tính” dĩ nhiên những món này vẫn cần phải chế biến ở mức độ nào đó mới thành món ăn ngon, chứ chúng thái quá, hỗn loạn thì không tốt. Khi chúng đạt sự ổn định thì càng vượng càng tốt, nên chúng gọi là “thuận dụng”. Trong đó các món Tài và các món Ấn thường là không hợp nếu dùng chung.

Các thần còn lại gồm Thất Sát, Thực Thần, Thương Quan, Tỷ Kiên, Kiếp Tài thì cần kỹ càng hơn, nếu không sẽ thành những món đồ gây hại, đặc biệt Thất Sát giống như món cá nóc độc, nếu gặp được đầu bếp có trình độ chế biến tốt thì thành món rất ngon, nếu không thì thành món độc hại. Nên cổ nhân sử dụng 2 chữ “nghịch dụng” chế đi để nói về cách sử dụng các thần này. Thực Thần, Thương Quan có tính biến ảo phức tạp, tùy theo tổ hợp bát tự (xem nguyệt lệnh Thực Thương). Tỷ Kiên, Kiếp Tài cũng được coi là hung thần nhưng không cần chế hóa phức tạp như Thất Sát. Các cát thần được thuận dụng, không phải cát thần nhưng được chế hóa và các thần đóng vai trò chế hóa hung thần thì trở thành các thần thể hiện thông tin tốt được gọi là dụng thần (thần được sử dụng trong quá trình luận đoán) và hỷ thần (các thần thể hiện thông tin tốt). Cách xác định dụng thần, hỷ thần từ đó nhận địch các cách cục tốt xấu được trình bày cụ thể ở các chương tiếp theo.

Chương 10 — Tòng cách

Khi xu hướng khí thế trong bát tự chủ yếu là một ngũ hành, hoặc có thêm ngũ hành tương sinh với nó thì ta có thể gọi chung là tòng cách. Tòng cách tùy vào việc Nhật chủ ở phe vượng hay phe nhược mà chia ra tòng cường hay tòng nhược.

Tổng quan về tòng cách

Thực ra tòng cách không phải chỉ có riêng một hai ngũ hành trong bát tự mà có thể trộn lẫn vào một vài can chi thuộc ngũ hành khác, mà những can chi này quá ít, hoặc phân tán dễ bị bẻ gãy, sách xưa gọi dạng này là giả tòng phân biệt với chân tòng. Về cơ chế hoạt động chúng cũng như nhau. Trong sách Trích Thiên Tủy Bình Chú, tác giả Nhậm Thiết Tiều phân loại tòng cách như sau: - Tòng cường và tòng vượng: ngũ hành của nhóm Tỷ Kiếp và Ấn Kiêu là chủ đạo. Ấn Kiêu mạnh hơn là tòng cường, Tỷ Kiếp mạnh hơn là tòng vượng. Ta gọi chung là tòng cường. - Tòng nhược: tòng Tài, tòng Sát, tòng Thực Thương tùy vào thập thần chủ đạo - Tòng thế: tòng nhược mà có nhiều hơn một khí thế, kiểu có cả Tài, Sát, Thực Thương không biết lấy thần nào chủ đạo. Có thể hình dung tòng cách là tình trạng chính phủ độc tài, còn không tòng cách là mô hình thiên về dân chủ. Ở dân chủ có thể tự do đấu tranh tìm ra người tài làm lãnh đạo, các bên chấp nhận và thích ứng với việc cạnh tranh. Ở tình trạng tòng cách như thời phong kiến, các vua chúa không chấp nhận việc cạnh tranh, nên cần triệt tiêu tối đa những kẻ chống phá, chỉ cần 1 kẻ chống phá dù yếu đi chăng nữa mà không thể tiêu diệt được tận gốc thì sớm muộn trật tự sẽ bị lật đổ.

Dẫn đến tỷ lệ ngũ hành để tạo ra sự cân bằng ở mỗi cách sẽ khác nhau. + Giả dụ ở cách cục Chính Quan, phe tốt là Quan tinh và Tài tinh, phe xấu là Thực Thương, Tỷ Kiếp. Tỷ lệ tốt 75%, xấu 25% là ổn định; tốt 50%, xấu 50% có nguy cơ bất ổn; tốt 40%, xấu 60% là bất ổn; tốt 30%, xấu 70% là cách cục bị phá bại, hung. (Tỷ lệ đều là tạm tính để minh họa, trong bát tự ngũ hành luân chuyển không cố định, mọi tỷ lệ tính toán đều chỉ là ước chừng.) + Ở cách cục tòng Sát, phe tốt là Thất Sát, Tài tinh, phe xấu là Thực Thương, Tỷ Kiếp. Tỷ lệ tốt 70%, xấu 30% có thể trở thành nguy cơ bất ổn. Tốt 60%, xấu 40% là cách cục bị phá, hung. Tỷ lệ hợp lý cho cách cục chỉ là tốt 85%, xấu 15%. Cùng một tỷ lệ tốt / xấu: 75% / 25% mà với cách cục này là mệnh tốt, với cách cục khác là mệnh hung. Nên việc xác định đúng cách cục là một điều rất quan trọng.

Tòng cường cách

Nhận diện

Nói chung là chỉ cấn Ấn Kiêu và Tỷ Kiếp xuất hiện nhiều, các thần còn lại không xuất hiện, hoặc xuất hiện mà quá yếu, phân tán, bị triệt tiêu thì có thể thành tòng cường cách, bất kể chi tháng là Tài, Quan, Sát, Ấn... Người học cần bám sát vào tiêu chí đó để nhận diện. Một số tiêu chí đưa ra để giúp người học dễ dàng nhận diện cách cục này như sau: + Nhật chủ có gốc, không quá yếu so với Ấn Kiêu. Nếu Ấn Kiêu quá mạnh so với Nhật chủ, chuyển sang luận cách cục Ấn tinh.

  • Tỷ Kiếp và Ấn Kiêu xuất hiện nhiều ở can, tàng nhiều ở chi. + Nếu nguyệt lệnh là Tỷ Kiếp, Ấn Kiêu mà Tỷ Kiếp, Ấn Kiêu xuất hiện 5 vị trí can chi trở lên mà không kết nối tương sinh cho Thực Thương, Tài tinh thì có thể tòng cường cách. Thậm chí Tỷ Kiếp, Ấn Kiêu tổng là 4 mà phe tập trung ở trụ ngày, tháng, phe đối lập (chủ yếu là Thương Thực, Tài tinh) bị phân tán triệt tiêu thì cũng có thể tòng cường cách. + Với nguyệt lệnh khác mà Tỷ Kiếp Ấn Kiêu xuất hiện từ 6 vị trí trở lên mà không có Thực Thương sinh Tài, cộng thêm với nguyệt lệnh bị khống chế, xung phá cũng có thể tòng cường cách. Chú ý: Tỷ Kiếp xuất hiện từ 2 can trở lên, địa chi gốc mạnh, trong khi Thực Thương chỉ có 1 can gốc yếu hoặc hư phù thì Tỷ Kiếp phản sinh Thực Thương vẫn hình thành tòng cường cách. Ví dụ: Sir Alex Ferguson sinh ngày 31 tháng 12 năm 1941 giờ Thân (Được chính chủ cung cấp trong hồi ký)

Tân Tỵ - Canh Tý - Quý Sửu - Canh Thân

Tỷ Kiếp, Ấn Kiêu xuất hiện ở 6 can chi, Tỵ Sửu cũng bán hợp hỗ trợ cho Ấn Kiêu. Khí thế nhật can quá mạnh, Tài Quan không đáng kể, hình thành cách tòng cường. Tài tinh Tỵ hỏa là kỵ thần, bị Tý thủy nguyệt lệnh bên cạnh khắc chế, không có Thực Thương cứu trợ, nên các thời điểm thành công nhất đều trong vận hỏa có lực. (xem phần Hành vận) Hay một nam mệnh khác:

Nhâm X - Nhâm Tý - Nhâm Thìn - Ất Tỵ

3 can Nhâm thủy thấu can, địa chi có đảng thế mạnh, Thìn tuy là thổ nhưng lại tham gia bán hợp thủy, Tỵ hỏa đơn độc bị nhóm thủy khắc mất, Ất mộc tuy có gốc tại thìn nhưng không thể chống được 3 can thủy nên cũng vô dụng. Bát tự thành tòng cường cách.

Dụng thần, hỷ thần, tổ hợp tốt, tổ hợp xấu

Đây là một vấn đề có thể gây ra những tranh cãi. Bởi vì tuy hầu hết tài liệu cho rằng tòng cách gì thì dụng thần là cường cách đó, điều này đúng, nhưng theo tôi thì chưa đủ, tòng cường cách cũng có các tổ hợp tạo nên quý cách, phá cách, thường cách khác biệt nhau. Các điều kiện quý cách như sau: + Dụng thần là Ấn Kiêu, chỉ nên coi Tỷ Kiếp là phò trợ cho dụng thần, nhiều Tỷ Kiếp mà không có Ấn Kiêu thì không khá.

  • Mà nếu có Ấn Kiêu, Tỷ Kiếp thì cũng là cách cục khá thôi, đỉnh cao của cách cục là này là điểm một chút Quan, Sát. Chỉ một chút, không được nhiều. Nhiều thành phá cách. 2 bát tự mẫu phần bên trên đều là những người thành công trong lĩnh vực của họ, đều có 1 điểm Quan Sát nhược. Tại sao lại vậy? Điều đó liên quan đến câu: “Vượng giả xung suy, suy giả bạt - Suy giả xung vượng, vượng thần phát” được nhắc tới ở chương 8, thực ra được nói đến từ chương 1. Nếu Quan Sát có gốc mạnh thì lại thành không tốt. Thậm chí Tài, Quan mạnh trở thành cách cục xấu. Ví dụ như nam mệnh sau: Đinh X - Kỷ Dậu - Nhâm Thân - Tân Sửu

Địa chi toàn cục là gốc Ấn, cả 4 địa chi đều hỗ trợ cho Ấn, Ấn lại thấu ở trụ giờ, Nhật chủ Nhâm có gốc tại chi Thân và chi Sửu, nên cũng là thân cường. Tài không thể khắc Ấn, trái lại chuyển hóa sinh Ấn, số lượng các can chi kim thủy là 4, các can chi có thể hỗ trợ cho kim thủy là 6, nên xu hướng toàn cục là sinh cho thủy kim, bát tự này là 1 dạng tòng cường cách. Nhưng tuy có Quan hóa Tài sinh Ấn, mà Quan này lại có nhiều chi làm gốc, do Tài Đinh hỏa thấu mà tam hợp kim không thuần khí, (tương tự tình huống mục 3 chương 8), nên Tài Quan không hoàn toàn là yếu, trở thành phá hoại cách cục tòng cường. Quan không còn là Quan tốt mà phá hoại như Sát. Một mệnh chủ có bát tự này cuộc sống như sau: Thuở nhỏ vận kim bình thường, cũng có thể nói là được cha mẹ chăm sóc tốt so với thời bấy giờ, sang vận Đinh Mùi bắt đầu chơi bời nghiện ngập, vận Bính Ngọ đi trộm cắp để có tiền hút chích, vận Ất Tỵ có thời gian tốt, có thu nhập, không gây họa gì lớn, do Tỵ Dậu Sửu hội kim cục, cuối vận Ất Tỵ lại bắt đầu làm loạn, sang vận Giáp Thìn, Quan có gốc mạnh, Tài Quan có lực trở nên phá hoại, mệnh chủ gây trọng án bị xử khung cao nhất. Mệnh tòng cường mà Quan tinh quá yếu hoặc không có, chỉ cần thuần khí thì có thể vẫn ổn, dù không tốt như mệnh có Quan nhược. Gặp vận Quan nhược thì tốt, gặp vận Quan mạnh thì lại cần đề phòng.

Ví dụ: Nữ mệnh Mậu X - Canh Thân - Canh Tuất - Giáp Thân

Toàn cục là thổ kim, Tài tinh không có gốc bị khắc chế, nên không rối loạn cách cục, bát tự tòng cường cách, Quan tinh chỉ tàng trong chi Tuất không thấu ra, không phải chính khí, nên cũng chỉ là bình thường khá thôi. Cuộc sống ổn, có may mắn về tiền tài, nhưng không nhiều, không có nhiều cơ hội đột biến, vận Đinh Tỵ, can chi cùng là Quan, Quan có lực mạnh, một chút hao tài.

Tòng Tài, tòng Sát

Nhận diện

  • Nhật chủ không gốc, hoặc gốc yếu bị chế khử. + Tài tinh hoặc Sát tinh quá mạnh + Không có Quan sinh Ấn, Ấn sinh Nhật chủ (vì như vậy sẽ thành Quan Ấn tiết khí Tài tinh sinh cho Nhật chủ, phá cách cục). Hoặc Ấn quá mạnh, Nhật chủ quá yếu, không gốc cũng là không sinh được. + Tỷ Kiếp tàng không thấu, lực yếu.

Dụng thần, hỷ thần, tổ hợp tốt, tổ hợp xấu

  • Tòng Tài: Lấy Tài làm dụng thần, kỵ Tỷ Kiếp đoạt Tài, cần Thực Thương sinh trợ, cần Quan Sát hộ Tài, nhưng kỵ thấy Quan Sát hỗn tạp, hoặc Sát mà quá vượng không có chế hóa cũng thành Tài vượng sinh Sát hại thân. Tòng Tài cũng sợ Tài lộ, nhưng không sợ như những cách cục khác, chỉ cần không quá liều lĩnh thì vẫn có tài vận tốt. Tòng Tài sợ Tỷ Kiếp, nếu Tỷ Kiếp tàng nhiều mà đến vận dẫn động Tỷ Kiếp thì để phòng nguy cơ xấu. + Tòng Sát cũng tương tự tòng Tài: Lấy Sát làm dụng thần, Tài tinh làm hỷ thần. Kỵ Tỷ Kiếp, Thực Thương ẩn tàng chống Sát, kỵ Ấn Kiêu chuyển hóa Sát sinh Nhật chủ, cần Tài sinh Sát, chế Ấn.

Ví dụ nữ mệnh tòng Tài: Kỷ Mùi - Đinh Mão - Giáp Tuất - Kỷ Tỵ

Tuy nguyệt lệnh là Dương nhận Kiếp Tài nhưng hỏa thổ quá vượng, nguyệt lệnh bị hợp chế nhiều, không có sinh trợ nên đành phải tòng cách theo Tài tinh. May mắn ít gặp các vận thủy mộc kích động Tỷ Kiếp, hành vận đều sinh trợ Tài tinh nên có sự nghiệp, hôn nhân tốt, tài chính ổn. Vận gặp hỏa thổ hỷ thần là tốt, kim thủy mạnh không tốt.

Ví dụ mệnh Tòng Sát: Tân Dậu - Tân Mão - Ất Dậu - Ất Dậu

Ất sinh tháng Mão tuy được thông căn với nguyệt lệnh nhưng giống như mệnh trên, nguyệt chi không có lực phải chuyển sang tòng cách, ở bát tự này có 3 Dậu xung phá 1 Mão. Xét về lực lượng có phần giống với 2 nữ mệnh tòng Sát 4 trụ đều là Ất Dậu, tuy nhiên bát tự này là dạng tòng khiên cưỡng bởi nguyệt lệnh Tỷ Kiếp do bị xung phá hết mới phải tòng, Sát không có Tài hộ vệ cũng không phải là cách đẹp. Thuở nhỏ gặp vận Tài sinh Sát nên cuộc sống bình ổn, năng lực học tập được xếp vào hạng khá, nhưng can vận Nhâm Thìn, Quý Tỵ, Giáp Ngọ có Ấn tinh Quý thủy hóa Sát sinh thân, lại gặp Thương Quan Tỵ hỏa hợp khắc Sát phá hoại cách cục, nên cuộc sống xuất hiện biến cố nghiêm trọng, bỏ học làm nghề xã hội. Thất Sát chủ sự cương cường cứng rắn mạnh mẽ nên cũng có “vai vế” trong môi trường.

Thêm một nữ mệnh tòng Sát như sau:

Nguyệt lệnh Thực Thương mà Tài Sát quá mạnh thì cũng trở thành tòng Sát. Mệnh chủ của bát tự này có cá tính gai góc, mạnh mẽ, sức khỏe tốt, sức chiến đấu tốt, sự nghiệp thành công, nhưng hôn nhân nhiều lần đổ vỡ, sống cô độc. Từ mệnh cục mà nhận xét thì cách cục tòng Sát mà Tỷ Kiếp Thực Thương không yếu, xung phá chi ngày là cung chồng. Thực Thương còn chủ về con cái nên con cái khó khăn.

Tòng thế

Tòng thế tuy được nhắc đến như là một cách cục tòng nhược mà khí thế không rõ ràng, ví dụ Nhật chủ nhược mà Quan Sát và Thực Thương không phe nào thực sự chiếm độc quyền, nhưng thực ra vẫn có thể phân vào các cách cục tòng nhược, hoặc phân vào các cách cục nguyệt lệnh, nên sẽ được xếp theo nguyệt lệnh của chúng.

Chương 11 — Nguyệt lệnh Chính Quan - Chính Quan cách

Chính Quan hay còn gọi là Quan, là thần khắc Nhật chủ, nhưng hợp tính âm dương. Ý nghĩa của quan hệ tương khắc chính là sự khống chế, hợp âm dương có thể hiểu như sự ân tình, vừa khống chế vừa có ân tình là sự quản lý.

Chính Quan chính là thần đại diện cho sự quản lý, bên ngoài xã hội Chính Quan là đại diện cho những người có quyền lực, cho pháp luật, cho lãnh đạo, cho sếp... trong bản thân con người Chính Quan đại diện cho sự tự chủ, tự kiểm soát, kỷ luật. Về cơ bản luận bát tự Chính Quan cách không quá phức

tạp, chỉ cần tập trung vào ý chính là Chính Quan được coi là cát thần, là dụng thần, cần có lực mạnh, ổn định, cần xuất hiện các thần sinh trợ để phò tá, bảo vệ. Để giúp người học có thể nắm được các bước triển khai khi luận bát tự có nguyệt lệnh Chính Quan tôi xây dựng hệ thống câu hỏi gồm sáu câu. Tuy nhiên trong các ví dụ, để tập trung vào những phần trọng điểm tôi sẽ không trình bày đầy đủ theo 6 câu hỏi này.

Tổng quan

Có 2 điều cần lưu ý đặc biệt về Chính Quan như sau: - Thứ nhất Chính Quan là thần đứng đầu trong thập thần, là thần lưu ý hàng đầu khi chọn dụng thần. - Thứ hai, Chính Quan rất kỵ hình, xung, phá hoại. Chính Quan chính là đối tượng ảnh hưởng rất lớn tới cuộc sống con người. Chính Quan là thần thể hiện sự tự chủ mạnh, chăm chỉ, ý chí cầu tiến và có nhiều cơ hội thành công trong công việc. Kể cả người có chính Quan tiêu cực (kỵ thần, hoặc bị phá) thì mệnh chủ cũng vẫn có một số tính chất tích cực, thường là những người sẵn sàng hành động, quyết liệt nhưng thiếu thận trọng. Cách cục nào cũng có thể lấy dụng thần là Chính Quan. Ấn kiêu dụng Quan, Tỷ Kiếp dụng Quan, Tài Tinh cũng dụng Quan, thậm chí Thực Thương cũng có nhiều tình huống dụng Quan nữa. Cho nên 1 trong số 8 câu hỏi để luận xu hướng trong

mệnh chính là Chính Quan (và cả Thất Sát) có xuất hiện không? Nếu có và đủ mạnh thì nhiều khả năng nó sẽ trở thành dụng thần. Nhiều thôi chứ không phải là bắt buộc, cũng không phải là luôn luôn. Ví dụ nhưng khi Nhật chủ quá vượng thành tòng cường cách hoặc quá nhược, hoặc dụng Thất Sát, Thực Thương thì cũng không lấy Quan làm dụng thần. Và khi Chính Quan là dụng thần thì người đó sẽ có cơ hội nằm trong nhóm những người có mệnh lý rất tốt, có nhiều cơ hội thành công trong sự nghiệp. Nhiều mệnh lý chính trị gia trong tập nghiệm của tôi đều có ảnh hưởng của Chính Quan mạnh mẽ. Khi tìm thông tin lá số của các tổng thống Mỹ thì 4/5 vị tổng thống Mỹ từ 1992 đến 2021 đều có Chính Quan ở vị trí, vai trò phù hợp, vị còn lại là Thiên Quan. Một số người trước đó, ví dụ là ông Bush cha, tuy giờ sinh chưa chắc chắn nhưng nhìn vào 3 trụ năm, tháng, ngày thì ta cũng đã thấy ảnh hưởng của Quan tinh không nhỏ.

Nhận diện Chính Quan cách

Các tình huống khá chắc chắn để đưa về cách Chính Quan như sau: - Chính Quan chủ khí nguyệt lệnh, Thất Sát không thấu, Chính Quan có thấu hay không vẫn là Chính Quan cách. - Thất Sát là chủ khí nguyệt lệnh, Thất Sát không thấu, Chính Quan thấu Các tình huống nhiều khả năng được đưa về luận như cách Chính Quan như sau:

  • Chính Quan là phụ khí nguyệt lệnh, Chính Quan thấu, Thất Sát không thấu. - Thất Sát là phụ khí nguyệt lệnh, Thất Sát không thấu, Chính Quan thấu. - Nguyệt lệnh Tài tinh mà Chính Quan thấu có gốc. Ngoài ra một số trường hợp sau cũng có thể luận tương tự như Chính Quan cách. - Nguyệt lệnh Tỷ Kiếp mà Chính Quan mạnh, dụng Chính Quan

Sáu câu hỏi hướng dẫn triển khai phân tích bát tự Chính Quan cách

Để người học có đích đến trong việc tìm hiểu lý thuyết cũng như thành thục trong luận đoán về Chính Quan, tôi đưa ra một số câu hỏi cần trả lời khi thấy bát tự có nguyệt lệnh Chính Quan. - Câu hỏi 1: Chính Quan trong mệnh có bị khắc gần hay không? Bị khắc bởi Thực Thần hay Thương Quan? Nếu bị khắc có được cứu giải hay không? Nhờ Tài tinh hay Ấn tinh (Ấn Thụ và Kiêu Thần gọi chung là Ấn tinh). - Câu 2: Mệnh có gặp Quan Sát hỗn tạp hay không? Có cách nào khứ Sát lưu Quan không? Hay khứ Quan lưu Sát? Hay có Ấn tinh hóa Sát sinh thân không? - Câu 3: Trong tổ hợp bát tự thì Chính Quan ưu tiên tương tác với Tài tinh hay Ấn tinh? Tài tinh có khắc Ấn tinh không? - Câu 4: Chính Quan có bị Tỷ Kiên ở trụ khác hợp không? Có bị Kiếp Tài phản khắc không?

  • Câu 5: Gốc Chính Quan có bị xung, hình, hại hay không? Có hợp để giảm xung không? - Câu 6: Nhật chủ có hư phù không? Chính Quan có quá mạnh so với Nhật chủ không? Nếu có thì tuy Chính Quan không hỗn tạp cũng giảm tốt, gặp vận Chính Quan cũng có thể không tốt. Người học qua việc tìm các kiến thức bổ trợ cho việc trả lời 6 câu hỏi này có thể hiểu bát tự cách luận bát tự có nguyệt lệnh Chính Quan một cách thuần thục và dễ dàng. Để dành không gian trình bày cho các ví dụ, nên ở các ví dụ dưới đây tôi không cụ thể trả lời hết các câu này, nhưng với người học thì 6 câu này rất quan trọng nếu không muốn bị đánh lừa bởi các lý thuyết mang tiêu chuẩn kép.

Chính Quan mạnh là cơ hội để có 1 bát tự tốt, vì thế cần bảo vệ

Chính Quan, tránh nguy cơ bị khắc phá

Rất nhiều người thành công trong chính trị có

nguyệt lệnh Chính Quan Chính Quan vượng tướng, Nhật chủ không bị hư phù thì bát tự có nhiều cơ hội trở thành cách đẹp, hoặc nếu Nhật chủ gốc yếu quá thì cũng bất ổn cần có Ấn Kiêu sinh trợ hợp lý thì vẫn thành mệnh tốt.

Ví dụ: Bát tự Bill Clinton (Nhiệm kỳ 1992 - 2000) Sinh ngày Ất, giờ Canh Thìn, tháng Thân. Canh là Chính Quan thông căn với nguyệt lệnh, lại có gốc ở chi năm, chi ngày.

Chính Quan vượng tướng, Nhật chủ có gốc yếu tại Thìn, cũng coi là có gốc dù yếu, 2 can Bính hỏa khắc Canh nhưng nhờ có địa chi thổ dày sinh trợ hóa hỏa trợ kim về sau vẫn tốt.

Ví dụ: G.W.Bush (Nhiệm kỳ 2001 - 2009) Tân sinh tháng Ngọ nhưng Đinh không thấu mà lại thấu Bính, Chính Quan cách.

Chính Quan Bính hỏa vượng tướng có nhiều chi làm gốc lại được Tài tinh Giáp và Mão đi theo sinh trợ, Nhật chủ không hư phù, Tỷ Kiếp có mà không vượng nên thành cách đẹp. Ví dụ: Tổng thống Mỹ, Joe Biden (Nhiệm kỳ 2021 2024) Nhâm Ngọ - Tân Hợi - Đinh Sửu - Giáp Thìn

Sinh ngày Đinh, tháng Hợi, Hợi tàng Nhâm khắc và hợp Đinh, Nhâm là Chính Quan. Chính Quan tại nguyệt lệnh được Tài sinh là tốt, tuy nhiên, bát tự này khá phức tạp, chi tháng lại bị chi ngày, và chi giờ tương khắc, Nhật chủ nhược nên không cản được Tài Ấn tương khắc. Dù Chính Quan có lực mạnh mẽ nhưng các nhóm ngũ hành tương chiến quyết liệt, Nhật chủ gốc quá yếu nên bất ổn, vì thế bên cạnh những thời kỳ công thành danh toại, gia đình lại có những giai đoạn bi thương. 4.2 Chính Quan bị phá hoại sẽ có nguy cơ xấu Nhưng không phải ai trong mệnh có Chính Quan thì cũng thành công, thậm chí nhiều mệnh gặp biến cố nghiêm trọng cũng liên quan tới Chính Quan. Nguyên nhân là do điều lưu ý đặc biệt thứ hai: Chính Quan rất kỵ hình, xung, phá hoại. Về mặt nào đó, Chính Quan vượng tướng, không thái quá, giống như một ông vua trong bát tự, một ông vua tốt có thể xây dựng một đất nước phồn vinh, nhưng khi vị vua ấy bị ám sát hay phạm sai lầm thì mang đến cho đất nước khủng hoảng vô cùng nghiêm trọng. Trong con người thì Chính Quan như ý chí của bạn, ý chí bạn mạnh mẽ sẽ giúp tạo nên kỷ luật để làm những điều tốt nhất như rèn luyện thân thể khỏe mạnh, tinh thần sung mãn, sự nghiệp thành công, nhưng ý chí đó bị lệch lạc, có vấn đề, bị phá hoại thì bạn sẽ bị suy sụp dẫn đến 1 loạt hiệu ứng domino ảnh hưởng tới toàn bộ cơ thể. Marilyn Monroe là 1 ví dụ.

Bính Dần - Quý Tỵ - Tân Dậu - Quý Tỵ

Nguyệt lệnh Chính Quan, lại có can Bính thấu trụ năm, nhưng Quan này không quá vượng, bởi Nhật chủ có gốc mà không yếu, không dễ gì phục tùng Chính Quan. Thiên can còn hiện 2 can Thực Thần tuy không có gốc. Quan vượng mà gặp Tài hình Quan, Thực khắc Quan. Hay 1 ví dụ dưới đây Chính Quan nguyệt lệnh bị Thương Quan cùng trụ tương khắc, Tỷ Kiếp mạnh hỗ trợ Thương Quan áp chế Chính Quan. Không chỉ sự nghiệp mà cả sức khỏe đều kém.

Nam mệnh Quý X - Ất Sửu - Nhâm Tuất - Nhâm Dần (X không phải hỏa, thổ)

Nhâm sinh tháng Sửu, nguyệt lệnh Kỷ thổ, tháng Chính Quan, bị Ất mộc Thương Quan tọa trên can tháng khắc xuống, chi năm, chi giờ lại là gốc Chính Quan. Không có Ấn tinh chế Thực Thương bảo vệ Chính Quan. Là có bệnh không có cứu. Mệnh chủ vốn là một người nghiện ma túy, nhiễm HIV, giao vận Tuất - Tân, đầu năm Tân Sửu 2021, mất sau khi bị 1 tai nạn không quá nặng, nhưng do thể trạng đã yếu. Chính Quan bị khắc chế, hình, xung là một loại bệnh của Chính Quan, nếu các thần bệnh bị chế hóa thì vẫn có thể giảm xấu, còn nếu không thì sẽ nguy hiểm.

Quay lại bát tự Bill Clinton, để thấy một cách cục Thương khắc Quan khá mạnh may nhờ được Tài tinh cứu trợ. Thương thấu can năm tháng, lại có gốc ở chi năm, đầu đời vất vả, cha mất sớm, sống với cha dượng nghiện rượu, bị ngược đãi, nhưng trung vận, hậu vận Quan tinh vượng tướng nên vẫn thành đạt. Bính Tuất - Bính Thân - Ất Sửu - Canh Thìn

2 Bính hỏa có gốc yếu ở Tuất khắc Canh kim Chính Quan là bệnh, cần thủy khắc hỏa cứu kim hoặc thổ hóa hỏa sinh kim. Yếu tố bất ổn ở chỗ thổ, thủy đều không thấu can - xuất hiện ở trên can. Nhưng nhờ có thổ tại địa chi xuất hiện nhiều lần, góp phần hóa hỏa sinh kim. Tuy nhiên vẫn phải nhìn nhận khía cạnh thổ, thủy không thấu khiến Quan vẫn bị tổn thương trong một số thời điểm. Luận bát tự không phải chỉ là hoặc bị phá hoặc không bị phá, mà còn bị phá nặng, có cứu, nặng không có cứu, nhẹ có cứu, nhẹ không có cứu, giữa các mức độ đó lại chia thành các mức độ khác, chứ không đơn giản chỉ là tốt hay không tốt. (Xem chương 7,8).

Dụng thần

Với Chính Quan cách, dụng thần là Chính Quan. Vì Chính Quan là cát thần nên cần hỗ trợ, giữ sao được ổn định. Quý cách: Chính Quan không bị thái quá, có tính năng động hợp lý là trở thành quý cách. Tuy nhiên Chính Quan rất sợ bị khắc phá, nên rất cần chú ý tới vị trí của Thương Quan. Nếu như Chính Quan làm dụng thần mà không gặp Thương Quan thì tốt, nhưng nếu Thương Quan xuất hiện trong bát tự, hoặc tàng trong bát tự mà xuất hiện ở các hành vận thì có thể khiến Chính Quan bị tổn thương. Vì vậy bát tự dụng Chính Quan thì cần sự xuất hiện của các thần hộ vệ của nó, đó là Ấn Kiêu và Tài tinh.

Hỷ thần: Hỷ Ấn tinh hoặc hỷ Tài tinh

Ấn là Chính Ấn, nhưng Thiên Ấn thì với Chính Quan cũng không khác nhiều Chính Ấn, nên thi thoảng vẫn được gọi tắt như vậy. Còn Tài là Tài tinh gọi chung cả Chính Tài và Thiên Tài. Một số trường phái có quan điểm là cứ đi sinh hành khác thì làm hao tiết mình, là xấu, như thế vô tình phủ định nhiều lý luận căn bản trong dịch lý nói chung, trong Bát tự Tử Bình nói riêng. Như ở trường hợp này, nếu bạn giữ thiên kiến đó thì bạn sẽ không hiểu được tại sao Quan sinh Ấn, tức là Ấn tiết khí của Quan mà Ấn lại trở thành hỷ thần của Quan. Nhưng cần hiểu, trong quan hệ ngũ hành, hành ta sinh

ra luôn đi khắc ngũ hành khắc ta, tức là đóng vai trò bảo vệ ta. Ví dụ: Ta là mộc, ta sinh hỏa, hỏa lại khắc kim. Trong Bói dịch Kinh Phòng hào Tử tôn được coi là phúc thần có thể khắc Quan quỷ. Cho đi không có nghĩa lúc nào cũng xấu, mà tạo cơ hội cho tương lai tốt đẹp hơn. Quan và Ấn ở đây cũng vậy, Ấn được Quan sinh không có nghĩa Ấn làm hao tiết Quan, Ấn còn đóng vai trò phòng hộ giúp Chính Quan chống lại sự chống phá của Thực Thương. Tạm hiểu nôm na là Chính Quan rất nhạy cảm trước tác động tiêu cực của Thực Thương nên Ấn tinh đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong sự ổn định của Chính Quan. Ngoài ra về ý nghĩa cơ bản về tượng loại thì Quan, Ấn cùng trong nhóm âm như kim thủy hỗ trợ nhau đặc biệt vậy. Còn Tài sinh Quan thì là điều mọi người dễ hiểu rồi, từ nguyên tắc định thập thần, ngũ hành của Tài tinh luôn luôn sinh cho ngũ hành của Quan tinh, nhưng ở góc độ nào đó Ấn vẫn là thành phần rất quan trọng, bởi thế mệnh cách Chính Quan đẹp là Tài, Ấn không cùng xuất hiện để phá nhau. Ba trường hợp Tài và Ấn giảm sự tương khắc với nhau như sau: + Một là cái này xuất hiện, cái kia tàng ẩn. (Bát tự Clinton: Bính Tuất - Bính Thân - Ất Sửu - Canh Thìn. Tài ở địa chi, Ấn không thấu, tàng trong chi Tài, Quan, bán hợp thành cục âm thầm xuất ra, nên vừa có Tài, vừa có Ấn.)

  • Hai là cùng xuất hiện Quan tinh đứng giữa, hoặc hỷ Ấn lộ Tài mà Tỷ Kiếp đứng giữa chế Tài. (Biden là trường hợp có bát tự Tài Ấn khắc nhau. Bush con là trường hợp Quan ở gần Ấn ngăn Tài khắc Ấn.) + Ba là, Nhật chủ đứng giữa Tài và Ấn, Nhật chủ vượng hợp chế Tài, không bên nào phạm bên nào. Trường hợp này nếu Nhật chủ yếu thì Tài vẫn khắc Ấn mức độ tỷ lệ nghịch với độ vượng của Nhật chủ. Tài Ấn không khắc nhau mà cùng hiện trong bát tự thì cả 2 đều có thể trở thành dụng thần, nếu Ấn quá mạnh so với Tài, thì vận gặp Tài tốt hơn, còn lại thì gặp Ấn vẫn tốt hơn. Còn khi Tài Ấn cùng xuất hiện, tùy vào bố cục của Tài, Ấn gần xa, ưu tiên tương tác mạnh yếu, mà Tài có phải là kỵ thần hay không. + Quan ở can, Ấn ở can, thì ưu tiên chọn Ấn. + Quan ở chi, Ấn ở chi, thì ưu tiên chọn Ấn. Có 2 ví dụ sau đây:

Mệnh 1: Nam mệnh Quý X - Kỷ Mùi - Nhâm Ngọ - Tân Hợi (X tàng hỏa, thổ)

Nhâm sinh tháng Mùi, Mùi tàng Kỷ thổ chủ khí, vừa tương khắc, vừa hợp âm dương. Nguyệt lệnh Chính Quan, dụng Quan Kỷ thổ, Ấn Tân kim thấu trụ giờ dụng Ấn. Can ưu tiên tương tác với can nên dụng Ấn. Tài kết đảng ở địa chi, tàng trong nguyệt lệnh. Tuy không thấu can nhưng có nhóm mạnh tại địa chi, là nguy cơ lớn. Vận Đinh hỏa thấu Tài khắc Ấn. Tài tàng địa chi thành tam hội hỏa Tỵ, Ngọ, Mùi. Kỷ thổ trở thành táo nóng, hiệu quả kém trong việc chế hỏa sinh kim, phát hiện ung thư phúc mạc dạ dày.

Mệnh 2: Nam mệnh: Tân Sửu - Tân Mão - Mậu Ngọ - Quý Sửu

Mậu sinh tháng Mão nguyệt lệnh Chính Quan lấy Ấn làm dụng thần. Mệnh này có Tân kim khắc Mão mộc trụ tháng, Thương Quan kiến Quan. Tài hợp Nhật chủ, xung đột với Ấn chi ngày nên không phải là tương tác ưu tiên của Chính Quan. Dụng thần Ấn Đinh tàng trong Ngọ hỏa. Hỏa dưới địa chi, gặp 2 chi Sửu thổ, hỏa sinh thổ, thành ra giảm khả năng khắc kim dẫn đến mệnh này có bệnh mà không có thuốc, tàng ẩn nhiều yếu tố nguy hiểm. Vận Đinh công việc thuận lợi. Vận Hợi, tàng Nhâm hợp Đinh hỏa, Tài Ấn tương khắc, phát bệnh nặng ở gan.

Năm cuối cùng của vận, Thương Quan gặp Lưu niên Tuất thổ tàng Tân làm gốc, kim khắc mộc qua đời.

Quan Sát hỗn tạp

Thế nào là Quan Sát hỗn tạp

Có 1 can Quan, lại có thêm 1 can Sát thì là hỗn tạp. Quan Sát hỗn tạp là 1 cách hết sức cần lưu ý khi luận bát tự có nguyệt lệnh Chính Quan. Bởi nó không những làm giảm tốt cách cục, thậm chí nếu không có chế hóa phù hợp có thể nguy cơ gây những điều xấu tai hại. Một tổ hợp có thể đưa ra làm ví dụ, bát tự Tổng thống Mỹ John F. Kennedy: Đinh Tỵ - Ất Tỵ - Tân Mùi - Bính Thân

Nhật chủ Tân kim sinh tháng Tỵ, nguyệt lệnh Chính Quan nhưng thiên can xuất hiện cả Quan Bính hỏa và Sát Đinh hỏa. Tạo thành thế cục Quan Sát hỗn tạp. Lại thấu can Ất là Tài sinh Quan Sát hỗn tạp quá mạnh không thể chế khử nổi. Cuộc sống phải đối mặt với nhiều vấn đề sức khỏe, chấn thương khi tham gia chiến tranh, vận Tân Sửu năm Quý Mão, Sửu vốn là tốt, nhưng địa chi không chỉ có quan hệ ngũ hành mà còn các tính chất khác nữa, chi Sửu lại xung động chi Mùi, mộc khai khố (xem Phụ lục kiến thức cơ bản) lại gặp năm Mão mộc trợ Ất mộc sinh hỏa thổ quá mạnh, bị ám sát sau khi đắc cử Tổng thống Mỹ. Ví dụ trên cho thấy Quan Sát hỗn tạp tàng ẩn khá nhiều nguy cơ, vậy tình huống nào là nguy cơ, tình huống nào là giảm nguy cơ?

Tổ hợp tốt xấu của các Quan Sát hỗn tạp

Gặp tổ hợp Quan Sát hỗn tạp thì đầu tiên cần xem có các can Tỷ Kiếp, Thực Thương nào hợp với Quan, Sát không (không tính Nhật chủ vì Nhật chủ can âm luôn hợp với Chính Quan). Nếu hợp với một trong hai thì tính hỗn tạp bị giảm đi khá nhiều. Hợp chế Thất Sát gọi là Khứ Sát Lưu Quan Hợp chế Chính Quan, gọi là Khứ Quan Lưu Sát Thông thường Quan Sát hỗn tạp thì xấu nhưng một số trường hợp Quan Sát yếu thế phải sinh trợ nhau thì cũng không sợ hỗn tạp. Tức là Quan Sát hỗn tạp chỉ thực sự đáng sợ nếu Quan, Sát vượng khí, bị hình xung, Nhật chủ quá yếu.

Quan Sát hỗn tạp về cơ bản như là Sát, đều khắc hại bản thân mà khó kiềm chế. Nên nếu hỗn tạp không có hợp chế thì cứ coi như nguyệt lệnh Thất Sát mà luận. Vì dù sao Quan vẫn là cát thần, cần được bảo vệ, Sát vẫn là hung thần, cần được chế hóa, nếu chế hóa được vẫn là cát thần. Ví dụ: Nam mệnh Đinh X - Bính Ngọ - Canh Thân - Nhâm Ngọ

Canh sinh tháng Ngọ, Ngọ tàng Đinh hỏa Chính Quan, can lại thấu cả Bính, Đinh nên là vốn Chính Quan cách thành Quan Sát hỗn tạp.

Sách xưa nói khứ Sát lưu Quan hoặc khứ Quan lưu Sát thì tốt, nhưng bát tự này tuy thấu Nhâm mà Đinh Nhâm lại xa cách, Nhâm lại gần Bính hơn khắc Bính mà không hợp. Nhưng dù sao Nhâm trong bát tự cũng quan trọng, dù sao thì cũng đóng vai trò chế bớt Thất Sát để dụng Chính Quan. Mệnh hỗn tạp không thấu Ấn, không xuất hiện chế hóa đẹp nên cũng chỉ là mệnh bình thường mà thôi. Mệnh chủ tuổi nhỏ gặp Sát vận, cha mất sớm. Vận Quý Mão Tài sinh Quan, sự nghiệp tốt, có thể nói là thành công hơn so với nhiều người cùng thời, kết hôn, sinh con. Vận Nhâm, Nhâm hợp chế Đinh, thay đổi lớn trong công việc, không quá xấu nhưng không thực tốt. Vận Dần, Dần Ngọ bán hội dẫn động Đinh hỏa Chính Quan, cơ bản công việc là tốt. Vận Tân Sửu, tuy Sát bị thiên can Tân hợp nhưng kim thủy có lực sinh Nhâm thủy trụ giờ khắc cả Sát lẫn Quan, sự nghiệp nhiều giai đoạn trắc trở, thay đổi nhiều công việc, cuối vận ổn định hơn nhưng không còn được như trước nữa. Vận Canh Tý, Tý xung Ngọ trụ tháng, gốc Chính Quan bị xung, sự nghiệp có phần đi xuống, Nhâm có gốc thủy càng mạnh, bị bệnh nặng may mà vẫn qua khỏi.

Mượn một ví dụ trong sách Trích Thiên Tủy Bình Chú - tác giả Nhậm Thiết Tiều Bát tự: Nhâm Thìn - Nhâm Tý - Bính Dần - Quý Tỵ

Bính sinh tháng Tý tàng Quý âm thủy, nguyệt lệnh Chính Quan, thấu cả Nhâm, Quý là Quan Sát hỗn tạp. Quan Sát không gặp hợp. Nhưng mừng là có Dần là Ấn tinh ở trụ ngày hóa Sát sinh thân, Tỵ hỏa lại làm gốc cho Nhật chủ. Nên Nhật chủ chịu được Sát. Mệnh này khác mệnh Kennedy ở một điểm là không có Tài tinh thấu ra sinh Sát quá đà, hỷ Ấn mà Ấn không bị xung phá. Vẫn là mệnh tốt. Hành vận chạy qua các vận Ấn Kiêu, Tỷ Kiếp, bát tự sinh mùa đông lại qua vận mộc hỏa điều hậu, nên càng thuận.

Một số điểm cần lưu ý về Quan Sát hỗn tạp tại

nguyệt lệnh Chính Quan như sau: Nguyệt lệnh Chính Quan bị Quan Sát hỗn tạp, về bản chất là một biến cách không tốt của cách Chính Quan. Nếu Nhật chủ có thể chịu đựng được Thất Sát thì vẫn có thể dụng được Chính Quan. tốt.

Nếu Tài tinh không mạnh thì gặp Tài tinh vẫn có thể

Tài tinh hơi mạnh thì gặp Tài tinh hơi xấu, còn Tài tinh quá mạnh, hoặc Tài tinh khắc Ấn Kiêu, thì trường hợp gặp Tài xuất hiện trong mệnh hoặc vận phá Ấn Kiêu thì có thể trở thành hung họa. Muốn biết Nhật chủ có chịu được Thất Sát hay không thì cần nhìn vào Tỷ Kiếp, Thực Thương, Ấn Kiêu, nếu có Thực Thương, Tỷ Kiếp hợp Sát lưu Quan là tốt nhất, không thì hợp Quan lưu Sát để luận tạm như nguyệt lệnh Thất Sát (xem phần Nguyệt lệnh Thất Sát), trong cách cục này Ấn Kiêu có thể đóng vai trò quan trọng để hóa Sát sinh Nhật chủ, hoặc bảo vệ Chính Quan, Thiên Quan (nếu Sát có chế hóa gọi là Thiên Quan). Cuối cùng thì một số tình huống sau cũng có thể coi là có tương đồng với cách Quan Sát hỗn tạp.

Một số tình huống tương tự Quan Sát hỗn tạp

  • Nhật chủ không gốc hoặc gốc yếu gặp nguyệt lệnh Thất Sát, thấu Chính Quan vượng. - Nhật chủ không gốc hoặc gốc yếu được cách cục Chính Quan nhưng nhập vận Thất Sát.

Nhật chủ quá yếu so với Chính Quan, Nhật chủ không gốc hoặc

Nhật chủ có gốc mà Chính Quan xuất hiện nhiều lần Chính Quan xuất hiện nhiều lần thì có nguy cơ thái quá, khi đó cũng không thực sự tốt. Nhưng dù sao Chính Quan cũng là cát thần nên cũng không phải là quá xấu. Chỉ cần gốc Chính Quan không bị hình hại, và Nhật chủ không quá yếu, Nhật chủ có gốc ổn định, Ấn không quá yếu thì cũng có những cơ hội tốt. Không thì cũng nhiều nguy cơ vất vả. Ví dụ nữ mệnh sau: Quý X - Quý Hợi - Bính Ngọ - Quý Tỵ

Ngày Bính, Chính Quan Quý thủy thấu cả 3 trụ năm, tháng, giờ, lấy Quan Ấn làm dụng thần, Ấn tàng trong nguyệt lệnh không thấu, trụ năm, trụ tháng xung phá Tỵ

hỏa, nên Quan này tuy bị xung nhưng chỉ là xung đột nhẹ, năng lực tốt nhưng công việc không quá thuận lợi, vận Ất Sửu, Sửu không trợ mộc hỏa, thấp thổ không khắc thủy, nên tuy học hành tốt mà khá vất vả trong công việc và việc gia đình, vận Bính Dần công việc tốt hơn, cuộc sống ổn định.

Nguyệt lệnh không phải Quan nhưng vẫn dụng Quan như Chính

Quan cách Quan xuất hiện mà có lực thì nhiều khả năng vẫn dụng Chính Quan, vận dụng như Chính Quan cách, như một số tình trạng như sau: - Chính Quan là phụ khí nguyệt lệnh, Chính Quan thấu, Thất Sát không thấu. - Thất Sát là phụ khí nguyệt lệnh, bản khí không thấu, Chính Quan thấu. - Nguyệt lệnh Tài tinh mà Chính Quan thấu có gốc. Ngoài ra một số trường hợp sau cũng có thể luận tương tự như Chính Quan cách: - Nguyệt lệnh Tỷ Kiếp mà Chính Quan có lực, dụng Chính Quan. - Nguyệt lệnh Thực Thương mà Quan có lực, được Tài sinh, Ấn bảo hộ.

Ví dụ Nam mệnh: Canh Ngọ - Canh Thìn - Mậu Ngọ - Ất Mão

Mậu sinh tháng Thìn, Mậu là Tỷ Kiếp chủ khí nguyệt lệnh, trụ giờ thấu Chính Quan Ất mộc, chi giờ lại là Mão mộc, Chính Quan lại thông căn với nguyệt lệnh, có gốc mạnh, luận như Chính Quan cách. Trụ năm, trụ giờ thấu kim khắc mộc, là tổ hợp Quan lại gặp Thực hợp khắc, cũng không khác gì Thương Quan phá Quan. Một mệnh chủ sinh ra trong gia đình cha mẹ nông dân, là con độc đinh, tính ham vui, thích uống rượu, tuổi trẻ hay đánh người kiểu trai làng ngày xưa, bỏ học sớm, học hành dang dở.

Vận Quý có Tài sinh Quan nên có một thời kỳ yên bình đi làm công nhân, vận Mùi, Quan nhập mộ, thổ kim chống lại mộc, lưu niên địa chi gặp kim, Quan tinh gặp đất mộ, vì xích mích nhỏ mà bị chém thương tật, lưu niên kim tại can, lại bị tai nạn. Khó chồng thêm khó. Vận Thân, Dậu thật khó lường. Cũng may địa chi có hỏa áp chế được một phần Thực Thương.

  1. Nguyệt lệnh Tài tinh dụng Quan Như bát tự dưới đây, Ất sinh tháng Mậu, nguyệt lệnh Tài tinh, Tài thấu thiên can, bị mộc khắc, trụ giờ xuất hiện Canh kim Chính Quan khắc Giáp cứu Mậu. Hành vận lại gặp Quan Ấn. Có thể nói là thành công trong quan trường.

Mệnh có đẩy đủ Quan, Ấn, Tài nhưng chưa hẳn đã tốt

Liên quan đến tính năng động của dụng thần, nếu mệnh có đầy đủ cát thần mà không có sinh khắc đủ mạnh thì chỉ thành cách cục trung bình thôi. Ví dụ: Nữ mệnh Quý X - Kỷ Mùi - Nhâm Thìn - Bính Ngọ

Tài, Quan vượng, nhưng không có hội hợp gì mạnh, Chính Quan không hỗn tạp được Tài sinh nhưng không có

sinh khắc gì đáng kể, chỉ đi khắc Quý thủy hư phù, cũng không bị khắc chế, bát tự không có bệnh nên có thuốc chẳng cần dùng. Quan tinh đẹp nhưng không phát sinh biến động cũng trở thành vô dụng. Một mệnh chủ có tổ hợp này tuy ngoại hình khá, gia đình có điều kiện nhưng học hành không tốt, không có ý chí, không nghề nghiệp, không tự chủ tài chính, hôn nhân không chọn đường bằng phẳng để đi.

Tỷ Kiếp quá vượng cũng ảnh hưởng xấu đến mệnh cục

Chính Quan nguyệt lệnh chỉ cần Nhật chủ không quá nhược, không quá chênh lệch với Chính Quan là có thể lấy Chính Quan làm dụng thần, nhưng khi Tỷ Kiếp xuất hiện nhiều quá có thể kiềm chế Chính Quan khiến mệnh cục trở không thực sự thuận lợi. Ví dụ nữ mệnh có bát tự như sau:

Mậu sinh tháng Mão là nguyệt lệnh Chính Quan, Nhật chủ có gốc, thiên can thấu Tài tinh vốn tốt nhưng Tài tinh trụ năm tháng cách xa chi Thìn nên gốc yếu ớt, địa chi lại nhiều mộc hỏa vây hãm tiết khí Mão mộc, nên Chính Quan tuy có động, được sinh mà không đủ lực. Học tập tốt, trình độ tốt, năng lực làm việc tốt nhưng cũng chỉ là làm chuyên viên, không có sự đột phá. Với nữ mệnh thì Chính Quan còn là thần liên quan đến hôn nhân, chi ngày không hỗ trợ dụng thần, nên hôn nhân không thuận lợi. Nguyệt lệnh Tài Quan chỉ cần Nhật chủ không nhược, không hư phù, Nhật chủ ngang bằng với nguyệt lệnh hoặc vượng hơn dụng thần thì có thể tạo thành các tổ hợp không tốt.

Nguyệt lệnh Chính Quan vẫn có thể thành tòng cường cách

Ấn Kiêu quá mạnh, Quan Sát không thấu, Tài tinh quá yếu hoặc không có thì không luận theo cách Chính Quan, mà luận theo tòng cường hoặc tòng Ấn, tùy trường hợp.

Tổng kết

Luận Chính Quan cách đừng nghĩ tới Nhật chủ cường nhược, chỉ cần Nhật chủ có gốc là được. Thân nhược thì cần Tài vượng. Nhật chủ vượng thì chưa khẳng định tốt xấu, nhưng không quá tốt, Tỷ Kiếp, Thực Thương vượng thì cần đề phòng. Dấu hiệu mệnh tốt: + Chính Quan cần ổn định, không bị Quan Sát hỗn tạp, không thấu nhiều can. + Có Ấn Kiêu mà Ấn Kiêu không quá vượng, Tài Ấn không khắc nhau. + Nếu xuất hiện Thực Thương thì cần các thần chế hóa mạnh (Tài hoặc Ấn).

Chương 12 — Nguyệt lệnh Thất Sát - Thất Sát cách

Thất Sát cũng là thần khắc Nhật chủ như Chính Quan. Nhưng nó lại cùng tính âm dương với Nhật chủ, cùng dấu thì bài xích lẫn nhau, vừa khắc vừa bài xích nên Thất Sát giống như kẻ gây hại tàn nhẫn, có thể trở thành đệ nhất hung thần. Nhưng thú vị ở chỗ nếu hung thần này được chế hóa phù hợp, tức là nếu bạn có thể chịu đựng được nó, biết cách dẫn dắt nó, thì nó trở nên tốt đẹp, có giá trị chẳng kém gì Chính Quan.

Nhận thức chung về Thất Sát

Một số hình tượng sau sẽ giúp mọi người dễ hình dung hơn về Thất Sát: Nếu trong các bộ phim điện ảnh thì: Chính Quan như cảnh sát (lực lượng hành pháp), Thất Sát như xã hội đen. Hai đối tượng này cùng bắt ta phải theo luật của họ, cùng khắc Nhật chủ nhưng một bên thì dễ chịu hơn. Nếu bạn may mắn sống trong môi trường pháp trị, thì cảnh sát sẽ bảo vệ luật lệ xã hội, nếu không may phải sống trong môi trường loạn lạc thì phải nhờ xã hội đen bảo kê cho bạn, bạn nghèo không có tiền nộp thuế thì cảnh sát vẫn có trách nhiệm bảo vệ cho bạn, còn nếu bạn không đóng đủ tiền cho xã hội đen thì chúng sẽ tấn công bạn. Hay có một hình ảnh minh họa khác gần gũi hơn. Ví dụ bạn là một người cần vay tiền chẳng hạn. Thì: + Chính Quan giống như Ngân hàng, mệnh có Chính Quan tốt tức là bạn có những phẩm chất được Ngân hàng chiếu cố, và bạn được vay với lãi suất vừa phải. + Và Thất Sát giống như tổ chức tín dụng đen, mệnh có Thất Sát mạnh, giống như bạn không đủ điều kiện vay Ngân hàng, bạn phải đi vay “lãi ngoài” của các tổ chức tín dụng khác. Có thể nhanh hơn, gọn gàng ít thủ tục hơn, nhưng lãi suất thì cao hơn. Nếu bạn có năng lực chịu được lãi suất đó thì khoản vay đó giúp bạn xử lý được việc, nếu bạn không đủ lực, thì sẽ gặp tình trạng lãi mẹ đẻ lãi con, sẽ là rắc rối lớn. Tức là vay “lãi ngoài” cũng tốt nếu như bạn có thể CHỊU ĐƯỢC nó. Cũng như Thất Sát cũng có khả năng tốt như

Chính Quan, NẾU bạn CHỊU ĐƯỢC Thất Sát. Vì vậy Thất Sát còn gọi là Thiên Quan - Quan không chính thống. Vậy thế nào là bạn chịu được nó? Có 4 tình huống để bạn chịu được Thất Sát như sau: + Thứ nhất, bạn có năng lực chống lại nó, khiến nó phải kiêng dè bạn đưa cho bạn một thỏa thuận có lợi. + Thứ hai, bạn dẫn dắt được nó, bạn biết nó muốn gì, bạn biết nó cần gì, và bạn có thứ nó cần, mà thứ đó đem lại lợi ích cho cả bạn, tức là lợi ích cho cả đôi bên. + Tình huống thứ ba, bạn đủ lì lợm để chịu đựng được sự công kích của nó. + Tình huống thứ tư, bạn hiểu được cách vận hành của nó, bạn chấp nhận từ bỏ những thuộc tính thông thường của bạn để khéo léo lợi dụng nó, gắn bó với nó. 4 tình huống đó ứng với một trong các tổ hợp mệnh lý như sau: + Thứ nhất, bát tự có Thực Thương đủ mạnh để khắc chế Sát, nhưng khắc chế thái quá lại là xấu, trường hợp này cần sự cân bằng ở cả hai phe. Thực Thương đủ mạnh thì Sát là dụng thần, Thực Thương quá yếu thì Thực Thương làm hỷ thần. + Thứ hai, bát tự có Ấn Kiêu có lực, khi đó Thất Sát sinh Ấn Kiêu, Ấn Kiêu sinh Nhật chủ, vẫn là dụng Thất Sát, Ấn Kiêu làm hỷ thần, Ấn Kiêu quá mạnh thì cần điều chỉnh. + Thứ ba, không phải 2 tình huống trên, nhưng nếu bản thân nhật can đủ mạnh thì cũng có thể chịu được Sát. Tình

huống này cần có can chi khác cùng ngũ hành với Nhật chủ, tức là các thập thần Tỷ Kiên và Kiếp Tài, xuất hiện nhiều, làm Nhật chủ vượng lên, thì tình huống này sẽ có nhiều rủi ro hơn, khi này vai trò của hành vận rất quan trọng. Thứ tư là Nhật chủ quá yếu, Tỷ Kiếp không có hoặc Tỷ Kiếp xuất hiện mà không có gốc, Ấn Kiêu, Thực Thương không đáng kể, không đủ các năng lực chịu Sát thì mệnh thành cách cục tòng Sát. Ở mỗi tổ hợp trong các tình huống này đều có thể xuất hiện các cách cục tốt hoặc thành cách cục xấu, đôi khi các cách cục tốt xấu này lại chỉ có những khác biệt rất nhỏ. Cũng giống như Chính Quan, Thất Sát khá nhạy cảm trước một số loại hình xung đặc biệt là Tý - Mão, Dần - Tỵ - Thân.

Xác định các bát tự thuộc cách cục Thất Sát

  • Nguyệt lệnh Thất Sát không thấu can Chính Quan, thấu (hoặc không thấu) can Thất Sát. - Nguyệt lệnh Chính Quan không thấu can Chính Quan, thấu can Thất Sát. - Nguyệt lệnh Thất Sát Nhật chủ không gốc thấu Chính Quan cũng coi như Thất Sát. Các tình huống cũng có thể được đưa về luận như cách Thất Sát như sau: - Thất Sát hoặc Chính Quan phụ khí tàng trong nguyệt lệnh, lại thấu can Thất Sát có lực (Quan mà cũng thấu thì thành hỗn tạp, mà thực ra hỗn tạp cũng luận gần như Thất Sát).

  • Nguyệt lệnh Tài tinh mà Thất Sát có lực, thấu can. - Nguyệt lệnh Tỷ Kiếp mà Thất Sát có lực.

Các tình huống Thất Sát thành Thiên Quan

Thất Sát nếu được chế hóa hợp lý có thể trở thành cát thần, được gọi là Thiên Quan trong các tình huống sau: + Có Thực Thương đủ mạnh để đối trọng với Thất Sát. + Có Ấn Kiêu đủ mạnh để hóa Sát sinh Nhật Chủ. + Có các địa chi Tỷ Kiếp mạnh giúp Nhật chủ trở nên cường vượng chống chọi lại với Thất Sát. + Thất Sát quá mạnh, nhưng không thái quá, Nhật chủ yếu phải tòng Sát. Cụ thể các tổ hợp sẽ được trình bày rõ ràng ở dưới đây:

Tổ hợp Sát có Thực Thương khắc chế

Những câu hỏi cần trả lời:

  • Bát tự có Thực Thương hay không? + Thực Thương hay Ấn Kiêu xuất hiện nhiều hơn, có tương tác với Thất Sát nhiều hơn? Nếu là Thực Thương xuất hiện, Ấn Kiêu không đóng vai trò quan trọng (không có hoặc Ấn Kiêu không đóng vai trò ngăn cách Thất Sát khỏi Nhật chủ), Thực Thương có lực ở vị trí có thể khắc chế Thất Sát thì nhiều khả năng sẽ được quy về tổ hợp Sát gặp Thực Thương. Khi đã xác định Thực Thương là đối trọng chính của Thất Sát thì khâu tiếp theo, ta cần phân tích qua một số câu hỏi như:

  • Nhật chủ có gốc không? Nhật chủ có gốc giúp mệnh cục ổn định. + Thực Thương so với Thất Sát có đủ mạnh làm đối trọng không? Nếu nguyệt lệnh Thất Sát có Thực mạnh thì Sát trở thành Thiên Quan, lấy làm dụng thần như Chính Quan. + Thực Thương có ở vị trí phù hợp để khắc Sát không? Có Tài tinh chuyển hóa Thực Thương sinh Sát không? Nếu có Tài đứng giữa ngăn cách thì Thực Thương khắc Sát gặp cản trở, nếu Thực mạnh hơn Sát thì vẫn dụng Sát được, tuy nhiên mệnh cục có nguy cơ bất ổn. Thực Thương nên ở trụ giờ, trụ tháng có ưu thế hơn trụ năm. + Có Ấn Kiêu khắc Thực Thương bảo vệ Thất Sát không? Ấn Kiêu và Thất Sát luôn tương sinh. Ấn Kiêu luôn khắc Thực Thương. Nếu gặp Ấn Kiêu kết hợp với Thất Sát mạnh hơn Thực Thương thì khi đó Thực Thương không đủ lực, sẽ bị Sát tấn công. + Thực Thương có khắc Sát thái quá không? Khắc Sát để dụng Sát, biến Sát trở thành Thiên Quan làm dụng thần chứ không phải tiêu diệt hoàn toàn Thất Sát, mệnh có Sát bị chế khử quá mức cũng là mệnh xấu, vì thế Thực Thương mạnh hơn Sát mà gặp vận Thực Thương cũng có thể xấu.

Sát được Thực chế phù hợp có thể trở thành 1 mệnh cách rất tốt. Khi đó Thực Thương yếu thì hỷ thần là Tỷ Kiếp, Thực Thương; Khi Thực Thương mạnh, thì gặp Tài tinh (vừa phải), Thất Sát (vừa phải) lại trở thành vận tốt. Đại khái khi Thất Sát gặp Thực Thương chế thì Sát trở thành dụng thần. Thực Thương, Tỷ Kiếp là điều kiện đủ để sử dụng được Thất Sát.

Những tổ hợp tốt, xấu

  • Tình huống tốt của tổ hợp này: Thực Thương có lực và ở vị trí thích hợp: gần nguyệt lệnh, hoặc gần can Sát, không thì cũng phải là Thực Thương có lực ở trụ giờ. Nhật chủ không hư phù (nhược). Sát không yếu, nếu Sát yếu thì cần được Tài sinh, Ấn tinh không đủ lực khắc Thực Thương. + Tình huống xấu của tổ hợp này: Tài tinh cường vượng đứng giữa ngăn cản Thực chế Sát. Sát thấu can quá nhiều, quá vượng mà Thực Thương quá yếu. Thấu Ấn Kiêu vượng khắc Thực Thương.

Một số tổ hợp minh họa

Sát gặp Thực Thương chế, Tỷ Kiếp nhiều, vận càng gặp Sát càng mạnh. (Nhưng vẫn cần đề phòng hình, phá) Ví dụ nữ mệnh:

Năm Canh - Tân Tỵ - Canh Tý - Ất Dậu

Nhật chủ Canh sinh tháng Tỵ tàng Bính dương hỏa là Sát. Do không thấu can Quan nên là Thất Sát cách. Ấn Kiêu không xuất hiện chỉ có trụ ngày là Thương Quan Tý thủy chế Sát. Canh kim Nhật chủ có gốc mạnh, lại có các can Canh, Tân cùng thấu, địa chi có Tý thủy đứng cạnh Thất Sát là Thương Quan chế Sát. Vốn dĩ kim thủy quá nhiều lấn át hỏa có thể thành cách Sát bị chế quá mức. Nhưng trụ năm tương trợ, lại có can giờ thấu Tài Ất mộc sinh hỏa vừa đủ. Dụng thần là mộc hỏa, các vận sinh Sát mạnh thì càng thuận lợi. Vận Mão mộc, Tài tinh Ất mộc gặp vận địa chi có lực sinh Sát, Mão sinh Tỵ hỏa, bắt đầu buôn bán phát tài, phát

triển mạnh mẽ. Bước sang vận Mậu Dần, Sát vẫn có lực, tuy nhiên Mậu thổ vừa khắc thủy vừa tương chiến với Ất mộc, chưa kể Dần Tỵ tương hình, nên tuy tài lộc vẫn dồi dào mà gặp nhiều thị phi tai tiếng, năm Tý kỵ thần lưu niên khắc Sát, gặp phải một số vấn đề liên quan đến pháp lý, tuy nhiên vẫn nhờ Ất Tài tinh có lực tại vận Dần nên vẫn vượt qua được. Chỉ cần Thực Thương mạnh, Nhật chủ không bị hư phù, Sát không vượng hơn Thực Thương, Tài không đứng giữa ngăn cách thì Tài Sát càng vượng thì càng tốt, bất kể Nhật chủ có Tỷ Kiếp tương trợ hay không. Như nam mệnh dưới đây Tân X - Canh Dần - Mậu Dần - Quý Hợi

Canh Tân có gốc mạnh tại trụ năm, chế Sát đủ lực, Sát trở thành Thiên Quan, cần sinh trợ, trụ giờ Tài tinh Quý

Hợi sinh Sát mạnh là tốt, mệnh thuận chiều, hành vận hầu hết gặp Tài Sát, mệnh tốt, vận cũng tốt. Ấn Kiêu không thấu, lại thấu Tài tinh nên Thực Thương cũng không bị sợ gặp Ấn vận (xem phần Hành vận). Mệnh chủ học hành thuận lợi, là người có chuyên môn, trí tuệ, có triết lý, gia cảnh tốt nhưng không vì thế mà ngừng phấn đấu, ham học hỏi, gia đình thuận hòa, cả sự nghiệp và tinh thần, thể chất đều tốt. Tương tự mệnh trên, nhưng địa chi hội Ấn Kiêu khắc Thực Thương thì đến hành vận Ấn mạnh sẽ gây bất ổn. Ấn vừa phải thì không xấu nhưng Ấn Kiêu mạnh quá thì lại thành xấu. Một mệnh lý mẫu như sau. Nữ mệnh: Tân Hợi - Canh Dần - Mậu Tý - Nhâm Tuất

Thế cục gần tương tự tổ hợp trên, tài vận tốt hơn nhiều người cùng xuất thân, tuy nhiên Thực Thương thay vì gốc trụ năm lại lấy gốc trụ giờ nên dù vẫn có lực nhưng bất ổn hơn mệnh trước, Dần Tuất bán hợp hỏa nên tàng ẩn nguy cơ Ấn khắc Thực hộ Sát. May nhờ có Tài tinh Hợi thủy và Tý thủy cùng can Nhâm thấu vừa sinh Sát mà vừa khắc Ấn hộ kim, nên cũng giảm được phần nào. Vận Nhâm Thìn, Quý Tỵ cơ bản là thuận lợi, có nhiều cơ hội kiếm tiền, thay đổi cuộc sống, vận Giáp Ngọ, vận Giáp tài vận vẫn rất tốt, tuy nhiên khi xuất hiện Ngọ thì Dần Ngọ Tuất bán hợp thấu hỏa mạnh khắc kim, 2 năm cuối vận phát hiện bị ung thư, sau vài năm điều trị khỏi hẳn. Vận Bính Thân thì thấu Bính hỏa cũng có phần chưa tốt, Vận Thân, Đinh Dậu thì tốt hơn bởi Thân Dậu làm gốc của Thực, Đinh có Nhâm hợp cũng không có nhiều trở ngại. Cùng cách cục tương tự như trên mà Tài hóa Thực Thương sinh Sát sẽ làm giảm năng lực chế Sát của Thực Thương. Ví dụ như nam mệnh dưới đây: Nhâm X - Nhâm Dần - Mậu Tý - Tân Dậu

Vẫn dụng Thực chế Sát, vẫn dụng Sát tuy nhiên Tài lại đứng giữa Thực và Sát, khiến cho mệnh cục trở nên bất ổn. Mệnh vẫn dụng Sát nhưng là tổ hợp bị phá cách. Tài vượng sinh Sát nên thủy trở thành kỵ thần, kỵ thần là hành mạnh nhất, mệnh cục thành xấu. Ngày bé hành vận Dần, Mão được cưng chiều, vận Giáp Thìn được cha mẹ đầu tư lớn, vận Thìn không thu được thành quả, vận Ất Tỵ Quan Sát hỗn tạp, Dần Tỵ tương hình, gặp hạn hình luật 8 năm, các vận Bính, Đinh là tốt, trong đó vận Đinh Mùi là tốt nhất, vận Mậu Thân kém hơn nhưng vẫn an nhàn, vận Kỷ Dậu Kiếp Thực, gặp năm Tân Thực Thương quá mạnh khắc Sát quá mạnh, bị bệnh qua đời. Sát dụng Thực chế mà Thực mạnh Sát yếu thì không tốt. Như bát tự dưới đây: Nam mệnh Ất Sửu - Giáp Thân - Giáp Ngọ - Bính Dần

Giáp sinh tháng Thân nguyệt lệnh Thất Sát, mộc hỏa quá cường, may mà có chi Sửu trụ năm tương sinh, nhưng thổ kim vẫn yếu hơn mộc hỏa, vận Tân làm ăn ổn định, bước sang 5 năm vận Tỵ, Dần Tỵ Thân tam hình đủ cả, phá sản, đầu tư nhiều tiền cho công việc nhưng lại không thành, rồi nợ nần, gặp rắc rối pháp lý. Gặp Thực Thương mà Thực Thương yếu, Tài tinh mạnh, hóa Thực Thương sinh Sát, Thực Thương thay vì chế Sát lại trở thành gián tiếp hỗ trợ cho Thất Sát, có thể thành cách tòng. Như bát tự sau: Nam mệnh: Ất Mùi - Bính Tuất - Nhâm Tuất - Giáp Thìn

Tài tinh Bính hỏa thấu can ngay trụ tháng, sinh cho Thất Sát nguyệt lệnh; Thực Thương không đứng cạnh Thất Sát, thấu 2 can Giáp, Ất lại gần Tài, sinh Tài. Thực Thương không những không đủ sức chống lại Thất Sát, mà còn gián tiếp sinh Sát. Nhật chủ yếu, Sát mạnh, không có công cụ chế Sát mà thành mệnh tòng Sát. Dụng thần là Thất Sát, Tài tinh. Từ vận Mùi đến vận Canh mấy chục năm sự nghiệp hiển hách. Tuy nhiên cách này xét tòng thì lại không được “sạch” (xem phần tòng cách), bởi Thất Sát gặp xung từ trụ giờ Giáp Thìn. Thìn tuy là thổ nhưng lại là thổ cuối mùa xuân, tàng mộc, tàng thủy, xung Tuất, đến vận Thìn lại vướng vào hình pháp. Sát dụng Thực chế, mà thân nhược quá thì cũng bất ổn, nhưng lại được Tỷ Kiếp, Ấn Kiêu xuất hiện tương trợ vừa phải thì lại thành tốt, quan trọng là Ấn Kiêu và Thực Thương không phá hoại nhau. Dụng thần vẫn là Sát. Như bát tự sau: Canh X - Quý Mùi - Quý Mão - Ất Mão

Thực hợp Sát chế Sát hơi mạnh, may nhờ có trụ năm tương trợ, vừa củng cố nguyệt lệnh vừa góp phần hợp chế Thực, trụ năm có Canh kim không quá mạnh vừa đủ sinh cho 2 can Quý thủy hư phù, vừa khiến cho mộc khắc thổ không quá mức. Sát được chế lấy Sát làm dụng.

Vận Đinh hỏa phát tài, vận Hợi, thành tam hợp mộc, Thực quá mạnh trong 5 năm bại 2 lần. Vận Mậu Tý bắt đầu vận Mậu đi đến nơi khác lập nghiệp, Mậu trợ Sát, Tý thủy trợ thân, tình cờ may mắn chỉ trong vài năm mà gặp mấy lần bão giá đất phát tài hàng trăm tỷ. Trường hợp Thực Thương không đủ lực, thay vào đó là xuất hiện Ấn Kiêu mạnh thì khi đó lại thành cách Sát Ấn tương sinh, cũng có thể thành cách tốt.

Tổ hợp Sát phối Ấn Kiêu - hay còn gọi là cách Sát Ấn Tương Sinh

Tổng quan

Bát tự nếu Thực Thương không mạnh mà Ấn Kiêu lại mạnh thì là cách cục lấy Ấn Kiêu hóa Sát sinh thân, còn gọi là cách Sát Ấn tương sinh.

Khi này luận cũng tương tự như Chính Quan, cần xem Tài Ấn có phá nhau không? Nếu Tài Ấn khắc nhau thì Ấn hay Tài mạnh hơn? Nếu Tài mạnh phá Ấn thi nguy, nếu không thì tốt. Dụng thần: Ấn Kiêu, Thất Sát, nếu Ấn quá mạnh thì gặp Tài vận lại tốt. Kỵ Tài mạnh phá Ấn.

Các tổ hợp cụ thể và minh họa

Ví dụ nữ mệnh: Mậu X - Đinh Tỵ - Tân Mùi - Tân Mão

Sát Đinh hỏa trụ tháng sinh Ấn Mậu Thìn trụ năm, Thìn là thấp thổ dưỡng kim nên tổ hợp này vừa đẹp. Cách cục Sát Ấn Tương sinh, bởi Thực Thương không thấu, lại có Ấn tinh Mậu thổ hóa Sát, Sát thành Thiên

Quan, lấy làm dụng thần. Trong mệnh có Mão mộc Tài khắc Ấn lại có hỏa kim sinh trợ bảo hộ Ấn, có thể nói là có bệnh có thuốc, mệnh này có thể nói là tốt. Tài sinh Sát nhưng Tài khắc Ấn, nên vừa là tốt vừa không tốt. Vận Giáp Dần Tài quá vượng khắc Ấn nên cha mẹ lần lượt bị tổn thương, Mão Mùi hợp chi ngày nên cung hôn nhân cũng không tốt, nhưng sự nghiệp tài chính thì phát triển dần đều. Vận thủy là Thực Thương chế Sát nên cũng có một số rủi ro trong sự nghiệp nhưng không quá nghiêm trọng. Cũng thuộc cách Sát Ấn tương sinh là bát tự Bill Gates. Ấn không quá mạnh, Tài không yếu nên lấy Sát Ấn làm dụng thần.

Bát tự Bill Gates nguyệt lệnh Thất Sát có Ấn thông căn với nguyệt lệnh, Tài tinh Bính hỏa tuy xuất hiện nhưng nguyệt lệnh Thất Sát thổ tháng cuối mùa thu sinh Tân mạnh mẽ, lại có Nhật chủ đứng giữa giảm bớt phần mâu thuẫn. Tuy nhiên Bính hỏa Tài tinh ở đây không yếu nên vẫn khắc Ấn một phần nhỏ, dẫn đến - thực ra là phù hợp với hạn: vận Ngọ gặp nhiều rắc rối liên quan đến kiện tụng. Ngoài ra thì ông lựa chọn khởi nghiệp chứ không tốt nghiệp đại học. Còn nếu Tài quá vượng thì Ấn có nguy cơ lớn bị tổn thương, cũng dẫn đến điều xấu. Ví dụ một bát tự sau: Nam mệnh

Bát tự tuy có Thực Thần chế Sát nhưng Dậu kim ở địa chi quá cô độc không đủ chống lại mộc nên không thể lấy làm dụng thần được. Lấy Ấn tinh Bính hỏa trên trụ giờ, có gốc tại chi Dần cùng trụ có lực hóa Sát sinh thân. Nhưng nguyên cục Tài tinh thấu 2 can Nhâm Quý có lực chực chờ khắc dụng thần Bính hỏa, nên cách cục cũng không hẳn tốt. Các vận mộc hỏa học hành rất thuận lợi, sự nghiệp vừa phải có danh nhiều hơn tài chính, sang vận Mậu Thân, Ấn bị xung gốc, Tài khắc Ấn, hôn nhân không toàn vẹn, con bệnh, gần như khánh kiệt vì con cái. Ngoài ra Cách cục Sát Ấn tương sinh mà Tỷ Kiếp vượng, tàng nhiều Thực Thương thì đến vận Thực Thương có thể thành họa như bát tự dưới đây: Nam mệnh

Sát Ấn tương sinh có quyền chức, nhưng Tỷ Kiếp có gốc mạnh, lại nhiều, 1 Ất mộc đấu 2 Kỷ không đủ lực. Địa chi Tỵ tàng Canh kim khắc mộc. Vận Quý Dậu, Tỵ Dậu bán hợp kim cục, bệnh nặng qua đời.

Sinh trợ Nhật chủ để chống Sát

Tổng quan

Khi Thực Thương không đủ mạnh để chế Sát, Ấn kiêu không đủ mạnh để hóa Sát, hoặc chúng đều không xuất hiện ở vị trí phù hợp, mà trong bát tự lại có Tỷ Kiếp ở địa chi, Nhật chủ lại có gốc không quá yếu, khi đó luận theo cách trợ Nhật chủ chế Sát Một số câu hỏi cần trả lời: + Nhật chủ có các địa chi làm gốc mạnh không? Các địa chi này có bị xung phá, hợp chế mạnh không? Nếu có thì dù có nhiều can Tỷ Kiếp cũng có thể thành tòng cách. Lưu ý: hỗ trợ Nhật chủ quan trọng nhất tại địa chi chứ không phải là thiên can. Nếu địa chi yếu, can không có gốc thì cũng vô dụng.

Một số tổ hợp cụ thể và minh họa

Nữ mệnh dưới đây dù Ấn tinh yếu không đủ hóa Sát sinh thân, nhưng cũng góp phần khiến cho mệnh cách không quá xấu

Bính sinh tháng Tý, thấu 2 can Nhâm dương thủy Thất Sát quá mạnh, lại có Tài sinh Sát, Tuất thổ Thực Thần ở địa chi không đủ lực để chống Sát, Dần mộc trụ giờ cũng không đủ lực để hóa Sát trợ thân, Nhật chủ cũng có gốc không thể tòng nhược, lấy hỏa làm dụng thần. Vận kim thủy Sát quá mạnh, bố mẹ đều bệnh mất, vận Tuất thổ cuộc sống có ổn định hơn, hôn nhân ổn, có một thời gian ngắn công việc ổn, nhưng bị gián đoạn. Qua đến vận Mùi, Ngọ thì tốt hơn.

Ví dụ khác về 1 nữ mệnh không tốt như sau: Nhật chủ có gốc gần, xuất hiện nhiều can nên không tòng, tuy nhiên Tài Sát quá mạnh Tỷ Kiếp không thể chống đỡ nổi.

Mệnh Tòng Sát

Tổng quan

Bát tự Thực Thương, Ấn Kiêu không đủ lực để đối trọng với Tài Sát, Nhật chủ và Tỷ Kiếp không có gốc hoặc gốc rất yếu thì trở thành mệnh Tòng Sát. Khi đó dụng thần là Tài tinh, Sát - những thần giúp cho Thất Sát mạnh lên, cũng có thể là Thực Thương nếu Tài bảo vệ Sát phù hợp. Như phần trên chúng ta cũng có 1 mệnh tòng Tài Sát. Một tình huống có thể gặp khó khăn khi nhận định cách cục Tòng Sát là Nhật chủ hư phù không gốc, gặp Ấn vượng thì cũng không dụng Ấn được, bởi quá vượng sinh quá suy là phản sinh.

Một số tổ hợp cụ thể và minh họa

Tòng Sát mà Tỷ Kiếp, Ấn Kiêu có lực dẫn đến nguy cơ trong một số vận: Ví dụ 1 mệnh có Ấn sinh Nhật chủ hư phù mà lại không tốt như bát tự nữ ca sĩ Whitney Houston. Nhật chủ không có các địa chi gần cận làm gốc, chi Mão mộc thì ở trụ năm lại bị trụ tháng Canh thân đứng giữa ngăn cách. Ngoài ra ở khía cạnh địa chi mà nói thì kim quá mạnh, dẫn đến Mão vốn lực rất yếu, lại cách xa, nên Nhật chủ gần như không có gốc.

Mệnh này tòng cách dụng Sát khác với Nhật chủ có gốc dụng Sát ở điểm sau, tòng Sát thì thủy mộc dù hơi nhược nhưng vẫn thành phá cách, còn cách cục dụng Ấn hóa Sát thì Nhật chủ không có gốc cần vận trợ thân. Bát tự thân nhược tòng cách nên vận có mộc thủy nhiều phá Tài Sát gây hại đến hôn nhân, tiền tài, sự nghiệp, sức khỏe, tính mạng, nói chung là xấu toàn diện. Vận Tân Dậu, Nhâm Tuất tốt đẹp, bắt đầu nhập vận Quý Hợi, Giáp Tý thì thủy mộc có gốc mạnh phản khắc lại thổ kim, vận Tý năm Nhâm Thìn hợp với chi Thân trong bát tự thành thủy cục quá vượng mà qua đời. Trong sách Trích Thiên Tủy Bình Chú Nhậm Thiết Tiều có nói đến một mệnh tương tự như sau:

Mệnh này Nhật chủ vô căn, khí mệnh tòng Sát, luận tòng Sát mà có tận 3 can mộc, thành ra hơi nhiều. Nên cũng không thực sự tốt. Vận Quý Mùi, Nhâm Ngọ sinh mộc xung khắc kim, không tốt, vận Tân Tỵ, Canh Thìn tay trắng làm nên sự nghiệp phát tài. Vận Kỷ Mão, thổ vô căn, Mão làm gốc cho 3 can mộc trong bát tự thành cường, vận xấu, phá tài, vận Mậu Dần thì mất.

Quan Sát hỗn tạp

Tương tự như nội dung trình bày ở nguyệt lệnh Chính Quan. Nhưng chế Quan lưu Sát thì nhiều cơ hội quý cách hơn.

Một số nguyệt lệnh thập thần khác khác mà Sát có ảnh hưởng thì

vẫn luận tương tự như nguyệt lệnh Thất Sát Điểm này cũng tương tự Chính Quan, ở mỗi nguyệt lệnh sẽ được nói riêng, nói chung là ở hầu hết các tổ hợp thì Quan, Sát đều có thể lấy làm dụng thần, đặc biệt là nguyệt lệnh Tài tinh. Ví dụ cũng 1 mệnh trong sách trên: Nhật chủ Ất mộc không có gốc, Sát vượng, Ấn tàng không hỗ trợ được, Thương hợp Sát cục không chế Sát trái lại còn giúp Sát mạnh lên. Mệnh tòng Sát. Vận Tuất, Dậu, Thân thổ kim vượng, hỏa nhược không khắc kim, liên tục thăng quan. Vận Ất Mùi, Mùi xung Sửu phá kim cục, can Ất lại dựa trên Ất tàng trong Mùi cùng 2 can Ất mộc trong nguyên cục từ yếu thành mạnh, nên thế tòng bị phá hoại, “hết lộc” (mất).

Tổng kết

Sát là hung thần, có thể gây hung họa. Nhưng nếu được chế hóa phù hợp sẽ tốt như cát thần, gọi là Thiên Quan. Có 4 trường hợp Sát có thể trở thành Thiên Quan, cần ghi nhớ để sử dụng. Có thể nói nguyệt lệnh Thất Sát chúng ta cần 2 loại dụng thần: loại thứ nhất là thần biến Sát thành Thiên Quan, nếu loại dụng thần thứ nhất này đủ mạnh thì dụng thần thứ hai chính là Thất Sát.

Chương 13 — Nguyệt lệnh Tài tinh - Tài tinh dụng thần

Tài tinh là tên gọi chung của Chính Tài và Thiên Tài, là những thập thần có ngũ hành bị Nhật chủ khắc. Tài tinh đại diện cho khả năng đưa ra giải pháp, đáp ứng các nhu cầu, và trong cuộc sống thông thường thì công cụ của Tài tinh chính là tiền bạc, vật chất. Tài tinh còn được coi là nguồn dưỡng mệnh, một số sách coi Tài tinh thể hiện sự ổn định hay sự thay đổi trong cuộc sống. Tài tinh là một trong số các thần thể hiện thân thể con người trong bát tự. Với nam giới Tài tinh là thần thể hiện tình duyên, hôn nhân.

Tổng quan

Tài tinh là cát thần cần được bảo vệ, gìn giữ. Có hai điều không mong muốn của mệnh lý Tài vượng, đó là: - Tài bị phá hoại, không có cứu. - Sinh ác thần Thất Sát, không có thần chế hóa Sát thành Thiên Quan (xem cách Thất Sát). Một số sách kỵ Tài vượng thân nhược, nhưng đó là một phần trình bày chưa đầy đủ về Tài tinh mà thôi, Tài vượng, Tài quá vượng không phải là yếu tố chắc chắn gây nên mệnh xấu, nó còn phải kết hợp với 1 trong số các yếu tố không mong muốn vừa nhắc đến ở trên. Tổ hợp đẹp nhất của Tài tinh là thấu 1 can Tài tinh và can đó có nhiều chi làm gốc. Thậm chí tàng nhiều ở chi mà không thấu nhưng vượng tướng, như là các nhóm 4, nhóm

nhóm tam hợp, tam hội, thì mệnh chủ nhiều khả năng

vẫn có tài vận tốt đẹp. Tài kỵ lộ, Tài lộ tức là Tài thấu 2 can, Tài lộ mà có Quan tinh (Chính Quan hay Thiên Quan) hộ vệ thì đều tốt, nhưng lưu ý là nếu Thiên Quan hay là Thất Sát quá mạnh mà không có chế hóa phù hợp thành tổ hợp Tài sinh Sát tàng ẩn nhiều nguy cơ hung. Thấu Sát mà Sát nhược thì tốt. Nguyệt lệnh khác dụng, hỷ là Tài tinh về cơ bản cũng luận tương tự.

Nhận diện

Nguyệt lệnh là Chính Tài hay Thiên Tài cơ bản đều luận như nhau.

Một số câu hỏi cần trả lời

  • Nguyệt lệnh Tài tinh có thấu Quan, Sát không? Nếu xuất hiện Quan, Sát có lực thì sẽ tương tự như cách Chính Quan, cách Thất Sát (xem chương 11, 12). Nếu Quan nhược, hoặc không có thì tiếp tục trả lời những câu hỏi tiếp theo. + Tài cần Thực Thương sinh hay Quan tinh bảo vệ? Quan tinh (gọi chung Chính Quan và Thiên Quan) kể cả nhược nhưng nếu Thương Quan không quá mạnh cũng có thể đóng vai trò bảo vệ Tài. Còn cách cục mà Thương Quan, Thực Thần đóng vai trò trọng yếu thì mệnh có Thiên Quan nhược tốt hơn mệnh có Chính Quan. + Thực Thương có đủ lực sinh Tài không? Nếu Quan tinh không đủ mạnh, hoặc không có thì Thực Thương sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ Tài. + Tỷ Kiếp, Ấn Kiêu có mạnh tương đương với Tài không? Nếu không có Thực Thương, Quan tinh mà Tài mạnh hơn hẳn Tỷ Kiếp, Ấn Kiêu thì có nguy cơ bất ổn, tùy vào ảnh hưởng của hành vận, nếu gặp vận tốt vẫn có thể tốt. Còn Tỷ Kiếp nhiều thì nguy cơ hung hiểm, nghèo khó sẽ cao. + Mệnh cục và đại vận có xuất hiện Thất Sát hay Thiên Quan? Nếu bát tự có các thành phần chế hóa Thất Sát thành Thiên Quan thì sự xuất hiện này sẽ là tốt, nếu không là hung cách. Hoặc nếu Tỷ Kiếp là kỵ thần mạnh thì Thất Sát lại là cát thần.
  1. Tỷ Kiếp vượng, Nhật chủ vượng là bệnh, tốt nếu có thuốc

Tài vượng được sinh, có bệnh có thuốc là

mệnh tốt Richard Branson - Nguyệt lệnh Tài tinh bị địa chi khắc nhưng nhờ có thiên can trụ giờ Thương Quan hóa Tỷ Kiếp sinh Tài.

Ở địa chi, nhóm mộc rất mạnh, nhưng may mà Tỷ Kiếp không thấu, lại thấu Thương Quan có lực mạnh.

Kết cấu tương tự - một mệnh chủ tuy còn trẻ nhưng có năng lực tài chính như sau:

Nam mệnh

Tỷ Kiếp vượng phá Tài

Tỷ Kiếp vượng phá Tài là thông tin cho thấy nguy cơ biến động tiêu cực về tài chính, nhưng còn tùy thuộc vào việc Tỷ Kiếp mạnh hay nhẹ, Tài mạnh hay yếu mà sự phá hoại đó là “tạm thời” hay “vĩnh viễn”. Một trong số ví dụ đưa ra để giúp người học hình dung về cách cục này như sau: Mệnh cục Tài mạnh, Tỷ Kiếp yếu hơn so với Tài dẫn đến tình trạng phá tài “tạm thời”: Francis Ford Coppola nhà sản xuất - đạo diễn loạt phim Bố Già, sinh ngày 7/4/1939 tại Detroit, Michigan, Mỹ, vào lúc 1h38p tương đương với giờ Sửu.

Kiếp Tài Ất mộc trụ giờ thông căn với chi tháng và chi năm khá mạnh, tuy nhiên Tài tinh có căn tại các chi tháng, ngày, giờ, thể hiện bát tự có sự tranh đấu rất khốc liệt. Sẽ là không đầy đủ khi nhận định mệnh cục nếu không bổ sung thông tin cha ông sinh năm Canh Tuất, tháng Nhâm Ngọ, ngày Đinh Mùi, tổ hợp bát tự có hỏa mạnh, bổ trợ cho hỏa thổ còn yếu. Tóm lại, đây mà mệnh dụng thần là Tài tinh, kỵ thần là Tỷ Kiếp. Kiếp Tài Ất mộc trụ giờ là kỵ thần, may là không có gốc ở gần, Tài tinh vượng nhưng xuất hiện 2 can, gọi là Tài lộ, không có Thực Thương chuyển hóa nên khá nhạy cảm trước biến động của hành vận. Đó là yếu tố lý giải sự thành bại thất thường của ông ta về tài chính.

Nói thêm về hành vận để hiểu về sự nhạy cảm của Tài tinh trong bát tự như sau: Năm 9 tuổi, vận Mão, Ất được bổ khuyết gốc nên có lực, bị bại liệt 1 năm. Vận Ất Sửu, 5 năm đầu, Ất là kỵ thần, không có thành công đáng kể. 5 năm sau Sửu là Tài tinh dần dần tốt lên. Vận Giáp Tý cơ bản là tốt bởi kỵ thần có chế hóa. (xem chương Hành vận). Vận Quý Hợi, Hợi lại là gốc cho Ất nên vận này hao tán tiền bạc. Cho dù làm những loạt phim danh tiếng nhưng cũng không tránh khỏi cảnh nợ nần, phải phá sản nhiều lần. Vận Nhâm Tuất, Tân Dậu vẫn khó khăn tài chính, thất bại trong làm phim, nhưng lại bắt đầu phát triển sản xuất, kinh doanh rượu vang. Vận Canh Thân, Canh hợp chế Ất, kinh doanh thành công. Tỷ Kiếp mạnh, có thể gây nhiều nguy cơ xấu, nếu mệnh chủ kết hợp yếu tố ngoại cảnh không phù hợp có thể gặp tình huống rất xấu, như một số bát tự sau:

Ngày Giáp sinh tháng Thìn, bát tự này là Tài tinh bị yếu thế không được sinh trợ, bởi Tỷ Kiếp lại xuất hiện nhiều can có gốc mạnh. Cùng là Tài mà Thìn Tuất lại xung phá mạnh không có chi hợp để kiềm chế. Một trong số những mệnh chủ của bát tự này bị mất vì tai nạn năm Giáp Tuất. Cũng sinh ngày Giáp tháng Thìn có tổ hợp như sau: Nam mệnh:

Đinh hỏa Thương Quan không gốc, không chống được Giáp mộc mạnh có gốc tại cả 4 địa chi. Bị bệnh nặng mất cuối vận Dần, năm 2013.

Tỷ Kiếp nhược, Nhật chủ nhược không phải

xấu, xấu là do Tài sinh Sát Một số sách truyền thống ca ngợi kết cấu Tài vượng, thân vượng, nhưng không có nghĩa cứ thân nhược, Tài vượng là mệnh xấu. Cần hiểu rằng Tài là cát thần chỉ cần Tài không bị phá, không sinh Sát, không thái quá thì mệnh có cơ hội tốt, còn thân vượng hay thân nhược không phải lúc nào cũng quan trọng, thậm chí Tỷ Kiếp giúp thân vượng mà phá tài mới là nguy cơ xấu. Một số mệnh lý thực tiễn Tài vượng thân nhược như sau: Nữ mệnh

Năng lực tốt, sự nghiệp tốt, đời sống hôn nhân, con cái ổn.

Nam mệnh Nhật chủ - Tỷ Kiên xuất hiện nhiều mà vô căn, vẫn phải tòng Tài

Năng lực tốt, tài vận cơ bản thì cũng tốt đẹp, tuy nhiên, do Tỷ Kiếp thấu can nhiều nên gặp nhiều vấn đề phức tạp trong mối quan hệ với anh em.

Tài tinh phối Quan Sát

Nếu Quan, Sát mạnh có thể luận như cách cục Chính Quan hay Thất Sát. Tức là nếu Quan mạnh thì lấy Quan làm dụng thần thì cần tổ hợp Quan vượng, nếu Sát mạnh thì cần Sát có chế hóa phù hợp. Sát được chế hóa phù hợp cũng sẽ tốt như Quan, còn Sát không có chế hóa phù hợp thì lại trở nên rất nguy hiểm.

Tài sinh Sát vượng không chế là hung cách

Ví dụ Tài sinh Sát vượng mà lực lượng chế hóa lại xung đột như sau. Nam mệnh:

Ất tháng Thìn, nguyệt lệnh Tài tinh, trụ giờ thấu Sát có lực, bởi Tỵ Sửu bán hợp trợ Sát, nên luận tương tự như cách cục Thất Sát, lấy Thương Quan Bính hỏa chế Sát để dụng Sát. Tuy nhiên trụ năm Quý thủy có gốc tại Sửu, Thìn khắc chế Bính hỏa. Phá mất cách cục. Năm Quý Mùi trong vận Quý Sửu, hành vận kích động Quý thủy qua đời.

Tài sinh Sát có thể là quý cách

Tài sinh Sát, Sát có chế thành Thiên Quan, lại là mệnh tốt.

Nguyệt lệnh Tài tinh, thấu Mậu là Sát, trụ giờ có Tân kim Ấn tinh hóa Sát thành Thiên Quan, trụ năm lại có Kiếp Tài, Sát chế Kiếp rất đẹp. Thông tin bát tự của 1 doanh nhân thành công. Từ vận Tân Dậu đã có những thành công lớn.

Thực Sát không phá nhau

Cũng như Tài, Ấn trong cách Chính Quan, Thực Thương và Thiên Quan đều là những cát thần của Tài Tinh, mệnh tốt là chúng có thể đồng thời phối hợp mà không chống phá nhau. Ví dụ:

Tổ hợp bát tự của một người có tài vận rất tốt như sau:

Thực và Sát được ngăn cách bởi Tài tinh, Tỵ Dậu là bán hợp Sát cục, đây là tổ hợp Thực Sát đều có lực, chung tay sinh trợ, hộ vệ Tài tinh, một mệnh chủ mang bát tự này từ tay trắng trở nên rất giàu có.

Tài phối Ấn Kiêu

Tài tinh và Ấn Kiêu cùng là cát thần, cách cục tốt là chúng có thể phối hợp lại với nhau, cả 2 cùng tồn tại, cách cục xấu là Ấn tinh yếu bị Tài tinh phá hoại.

Nữ mệnh Tài cách lại xuất hiện Ấn có gốc, nhưng Ấn không được sinh trợ, thành cách Tài phá Ấn, cha mẹ không toàn vẹn, tình duyên trắc trở, sự nghiệp lận đận, thân mang bệnh nặng. Nếu Ấn có lực hoặc có thêm Quan Sát hóa Tài sinh Ấn thì về lý thuyết mệnh lý sẽ có được cách cục tốt hơn. Nam mệnh, có Sát sinh Thiên Ấn Giáp mộc, mộc lại sinh hỏa thành hữu tình, Tài Ấn song song cùng tồn tại, đây là bát tự của một cán bộ quản lý nhà nước về văn hóa. Do Thiên Ấn có gốc xa tại trụ giờ nên là gốc yếu nên là chức vụ không lớn. Vận Tý nhận chức phó giám đốc một cơ quan.

Một số loại mệnh cục khác

Tòng Tài cách luận như tòng cách. Nguyệt lệnh Tài tinh Chính Quan mạnh luận như Chính Quan cách.

Chương 14 — Nguyệt lệnh Chính Ấn - Thiên Ấn

Chính Ấn - Thiên Ấn là những thần có ngũ hành sinh cho nhật can, gọi chung là Ấn tinh. Thiên Ấn còn có tên gọi khác là Kiêu Thần. Chúng đại diện cho cha mẹ, sự chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục của cha mẹ, đại diện cho sự giáo dục nói chung dành cho con người trong bát tự, đại diện bằng cấp, trình độ, học vấn. Trong tập nghiệm lý của tôi thì số người thành công có bát tự nguyệt lệnh Ấn Kiêu chỉ đứng sau Chính Quan, Thiên Quan, nhỉnh hơn một chút so với nguyệt lệnh Tài tinh. Ấn tinh nhìn chung là cát thần, ngoại trừ trường hợp bị thái quá, đều là thần cần được bảo vệ, phát huy.

Tổng quan

Ấn tinh là cát thần cần được bảo vệ.

Tổ hợp tốt:

Ấn tinh cần được Quan, Sát sinh trợ. Ấn tinh cùng Tỷ Kiếp mạnh thành cách tòng cường. Ấn tinh thái quá, quá mạnh so với Nhật chủ có Tài chế hóa hợp lý

Tổ hợp xấu

Tài mạnh phá Ấn tinh. Tỷ Kiếp và Quan Sát phá nhau. Ấn Kiêu vượng gặp Tài nhược. Ấn Kiêu gốc mạnh thấu nhiều can. Ấn Kiêu mạnh, Nhật chủ yếu.

Nhận định

Các cục Chính Ấn - Thiên Ấn thông thường: Nguyệt lệnh là Thiên Ấn hay Chính Ấn đều luận cơ bản như nhau. Cách cục Ấn hóa thành Kiếp: Trong trường hợp Tỷ Kiếp thấu can, Ấn Kiêu không thấu, nguyệt lệnh lại là trường sinh của Tỷ Kiếp, Ấn Kiêu không kết nhóm địa chi mạnh.

Ấn tinh bị Tài tinh khắc là mệnh tiềm ẩn nguy cơ xấu

Ấn tinh là cát thần, không tốt khi bị Tài tinh phá hoại. Cần Quan Sát hóa Tài sinh Ấn hoặc Tỷ Kiếp khắc Tài hộ Ấn.

Chúng ta phân tích một số bát tự sau để hiểu về tình huống Ấn gặp Tài tinh phá hoại sẽ thế nào: Mệnh lý của một người từng phải ngồi tù vì lừa đảo

Nguyệt lệnh Ấn Kiêu, thiên can thấu 2 can Bính hỏa Tài tinh khắc Thiên Ấn. Địa chi có Tỵ, Tuất là gốc cho hỏa, Tuất vừa sinh kim nhưng vừa trợ hỏa. Nên dụng thần là kim, thủy, thấp thổ khắc hỏa trợ kim, kỵ thần là mộc hỏa sinh trợ Tài phá Ấn. Các vận kim thủy thuận lợi, tài vận danh tiếng tốt đẹp, nhưng đến vận Nhâm Dần, Dần là gốc Bính, là đất hỏa trường sinh - biển thủ tiền bạc mà phải đi tù.

Một mệnh lý tương tự như sau: Nữ mệnh

Tài tinh Tỵ hỏa đứng ngay cạnh khắc Ấn, tuy có Quan tinh xuất hiện hóa Tài sinh Ấn, nhưng lại xuất hiện Thương Quan Giáp Dần trụ giờ phá Quan sinh Tài. Cuối cùng là Quan Ấn bị tổn thương. Mệnh chủ làm tín dụng đen, bị khởi tố vận Tý, bởi vận này Tỷ Kiếp phá Quan, thay vì phá Tài cứu Ấn mà sinh Thực Thương. Tại sao Tỷ Kiếp lại không phá Tài ư? Vì Ấn đang dụng Quan sinh, Tý Sửu hợp mà làm biến chất của Sửu.

Hay một ví dụ Ấn bị Tài khắc mà nghèo khó như sau:

Tài thấu 2 can vừa lộ vừa có gốc mạnh. Ấn tinh bị phá nghiêm trọng, nhưng nhờ địa chi Sửu Tý hợp, lại có mộc áp chế thổ 1 phần nên không quá hung hiểm. Mệnh chủ khó khăn kinh tế, nợ nần, kiếm tiền chật vật.

Quan Sát vượng, Ấn vượng, Tài nhược là cách tốt

Ấn Kiêu vượng có Quan Sát, Tài bị chế không thể khắc Ấn thì lại thành bệnh thần có thuốc, trở thành thần kích động cát thần càng vượng. Một số ví dụ như sau:

Bát tự của 1 người kế nghiệp thành công công ty gia đình về tài chính, bất động sản. Trụ năm là Tài tuy khắc Thiên Ấn nhưng lại hợp, Tài tọa trên là Sát, trụ giờ lại trợ Sát, mệnh có sẵn Ấn, Sát trở thành Thiên Quan, Tỷ Kiếp tuy nhiều nhưng không có gốc, không thể chống phá Thiên Quan, vì vậy đây là mệnh tốt. Tài là kỵ thần nhưng lại ở xa Ấn Kiêu, gốc yếu, hoặc bị Nhật chủ, Tỷ Kiếp hợp thì cũng không thể khắc dụng thần. Bát tự Warrent Buffet: Đinh hỏa Tài tinh có gốc tại Mùi nhưng cái gốc này dễ dàng bị khống chế bởi địa chi Tý thủy có lực hại Mùi, khử gốc hỏa trong Mùi. Thực Thần Giáp mộc lại hư phù dễ dàng bị Canh kim trụ năm chế khử.

Bát tự cựu Tổng thống Mỹ Jimmy Carter cũng với cách cục tương tự:

Tài khắc Ấn có Quan hộ vệ như bát tự sau: Nữ mệnh

Đinh hỏa can tháng khắc chi tháng Dậu kim, nhưng nhờ can giờ Mậu thổ Quan tinh hóa Tài sinh Ấn, mệnh chủ khá thành công trong ngành tài chính.

Ấn Kiêu thái quá

Ấn Kiêu thái quá chính là trường hợp Ấn Kiêu quá mạnh mà Nhật chủ yếu, hình thành tình trạng Ấn Kiêu mạnh lấn át Nhật chủ, Nhật chủ cần gặp vận bổ trợ chi gốc, hoặc Tài chế bớt Ấn, chế bớt Ấn để dụng Ấn chứ không phải để phá Ấn, tương tự như Thất Sát vậy. Có 2 tình trạng Ấn Kiêu thái quá chính như sau: + Ấn Kiêu thấu nhiều can: Ấn Kiêu có gốc mạnh ở địa chi, lại thấu nhiều can, Nhật chủ gốc yếu. + Ấn Kiêu thấu 1 can nhưng địa chi hội hợp, kết đảng mạnh, trong khi Nhật chủ không có chi gốc là chi cấp 1, 2, hoặc có chi cấp 3 nhưng không cùng trụ.

Ví dụ nam mệnh:

Nhật can Giáp mộc hư phù, không thành cách tòng cường được, đành phải dùng Tài chế bớt thế Ấn mạnh, các năm Hợi, Tý vận Dần phá tài, ly hôn, thị phi, tai tiếng.

Cách cục Ấn hóa thành Kiếp:

Trong trường hợp Tỷ Kiếp thấu can, Ấn Kiêu không thấu, nguyệt lệnh lại là trường sinh của Tỷ Kiếp, Ấn Kiêu không kết nhóm địa chi mạnh. Hay nói cách khác, tình trạng này là Ấn Kiêu không thể hiện nhiều ảnh hưởng, thay vào đó Tỷ Kiếp mạnh, nguyệt lệnh thay vì định cách cục mà chuyển sang hỗ trợ Tỷ Kiếp nắm quyền, luận như nguyệt lệnh Tỷ Kiếp, nếu thân vượng thì lấy Thực Thương, Tài, Quan làm dụng thần.

Ví dụ: Nam mệnh

Nếu luận theo cách cục Thiên Ấn thì mệnh không tệ bởi Kiêu vượng được Quan sinh, nhưng thực tế cách cục này là Ấn hóa Kiếp lấy Thực Thương Tài tinh để luận. Mệnh chủ học vấn không cao, sớm học nghề rồi đi làm, vận Kỷ Hợi phát tài, vận Mậu Tuất nhiều gặp khó khăn.

Tỷ Kiếp vượng, Ấn Kiêu vượng thành tòng cường cách

Tòng cường cách khác cách cục Ấn hóa Kiếp và Ấn thái quá ở chỗ Ấn Kiêu và Nhật chủ cùng có lực, xem mục tòng cách.

Chương 15 — Nguyệt lệnh Tỷ Kiếp

Nguyệt lệnh Tỷ Kiếp cùng ngũ hành với Nhật chủ, nên cách thức vận hành cơ bản là dễ hiểu, với các bát tự có Thực Thương, Tài Tinh và Thất Sát thì có thể luận với một số điểm tương đồng với phương pháp Nhật chủ vượng suy. Các tổ hợp còn lại thì phải luận theo cách cục đặc thù.

Tổng quan và một số câu hỏi cần trả lời

Sách xưa thì phân nguyệt lệnh Tỷ Kiếp ra 3 dạng Kình Dương, Kiến Lộc, Tỷ Kiếp. Nhưng cơ chế luận thực ra không khác nhau quá nhiều. Ngoài ra còn có một số dạng tổ hợp không được sách nào đề cập cụ thể. Khi luận nguyệt lệnh Tỷ Kiếp thì cần làm rõ một số vấn đề sau đây: - Tỷ Kiếp quá vượng (hoặc có Ấn Kiêu sinh) để thành tòng cường cách không? - Chính Quan, Thất Sát có mạnh không? Nếu Quan Sát mạnh thì luận như cách cục Quan, Sát. Xem chương 11, 12. - Thực Thương, Tài tinh mạnh hơn hay yếu hơn Tỷ Kiếp? Nếu Thực Thương Tài tinh yếu hơn dụng Thực Thương Tài Tinh, còn mạnh hơn thì cần bổ trợ cho Nhật chủ. Nếu Tài tinh quá mạnh được Thực Thương sinh, khống chế được Tỷ Kiếp, Nhật chủ, thì thành tòng Tài cách.

Tòng cường cách

Chỉ cần phe Nhật chủ gồm Ấn Kiêu, Tỷ Kiếp mạnh, mà phe đối kháng không đủ để làm đối trọng thì cần luận theo cách tòng cường. Còn một số dấu hiệu nhận biết đã trình bày trong chương tòng cách. Tòng cường cách nói chung khá kỵ Thực Thương mạnh và Quan Sát vượng. Thực Thương mạnh thì khiến Tỷ Kiếp sinh Thực Thương tiết khí làm hỏng cách cục.

Ví dụ bát tự sau, nếu theo nguyệt Kiếp cách dụng Thực Thương tiết khí thì mệnh cục không quá tệ, nhưng ông ta vốn thuộc cách tòng cường, Thực Thương ám hợp Tài tiết khí, phá cách cục nên mất ở giao vận Thực Thương, Tài tinh sau một thời kỳ khủng hoảng nhiều mặt trong cuộc sống.

Vận Quý thủy do có Mậu hợp nên cơ bản là tốt đẹp, (xem chương Hành vận) nhưng cuối vận Hợi, gặp thêm các năm Nhâm Thân, Quý Dậu kim thủy cùng với hành vận khiến cho Thực Thương quá mạnh, rối loạn tinh thần, kích động cường thần trong bát tự mà gặp họa. Mất giữa năm Quý Dậu 1993. Không có Thực Thương làm hao tiết cường khí thì có thể thành bát tự mạnh.

Ví dụ bát tự Sir Alex Ferguson. Quý sinh tháng Tý, được Ấn Kiêu sinh trợ mạnh.

Tuy nhiên, có trường hợp Thực Thương lại bị phản sinh nếu Nhật chủ mạnh, Tỷ Kiếp quá mạnh.

3 can Nhâm thủy thấu can, địa chi kết nhóm thủy mạnh, Thương Quan đơn độc, gốc yếu bị thủy cuốn trôi không còn hao tiết cường khí đáng kể nữa. Bát tự thành cách cục tốt. Tòng cường cách mà Quan Sát quá mạnh không chế lại thành hung cách như sau: Nam mệnh:

Giáp là Thất Sát có gốc mạnh tại Thìn, tuy yếu so với 2 can Mậu nhưng lại tàng ẩn trong nguyệt lệnh, lại được Tài tinh Nhâm thủy trụ giờ tương sinh. Tài Sát không đủ lực để đối trọng với Nhật chủ nhưng không quá yếu để thành cách tòng thuận lợi. Các vận Tỵ, Ngọ hỏa vượng hóa mộc sinh thổ, đời sống sung túc, tinh thần tiêu sái. Vận Tân Mùi, Sát có gốc, bệnh ung thư qua đời.

Tổ hợp có Thực Thương, Tài tinh có lực

Khi không có lực thì tòng cường, khi có lực lại phân thành 3 dạng, Thực Thương Tài tinh quá mạnh tiết khí Nhật chủ, cần Ấn Kiêu Tỷ Kiếp bổ trợ, Thực Thương Tài tinh yếu hơn Nhật chủ, dụng Thực Thương Tài tinh, dạng cuối cùng là Thực Thương Tài tinh quá mạnh, khống chế hoàn toàn Nhật chủ thì thành cách tòng cường. Nói cách khác, Thực Thương và Tài Tinh có lực yếu hơn Nhật chủ, vừa đủ để tiết hao Nhật chủ thì tốt, nhưng nếu mạnh hơn Nhật chủ thì khi đó làm hao tiết quá mức, gây hại thì là cách cục xấu. Nhưng lại có trường hợp đặc biệt là xuất hiện quá nhiều, đủ sức hợp chế hoàn toàn Nhật chủ, thì lại thành tốt.

Thực Thương sinh Tài vừa phải

Chỉ cần Thực Thương, Tài tinh yếu hơn Nhật chủ, Tỷ Kiếp, Ấn Kiêu thì có thể thành cách cục Thực Thương tiết tú. Priscilla Chan, sinh 0h ngày 24/2/1985, bát tự được tính như sau:

Tỷ Kiếp rất mạnh, Tài tinh Mậu thổ can tháng, địa chi có Dần Ngọ bán hợp hỏa, sinh thổ, Ngọ, Sửu đồng thời là gốc của thổ, khiến Dần cũng trở thành gốc của Mậu. Bát tự này là Thực Thương tiết khí Tỷ Kiếp sinh Tài. Hành vận lại sớm chạy qua các vận Thực Thương, Tài Tinh là có lợi. Chi ngày là cung hôn nhân tuy bị xung nhưng lại có hợp, lại là dụng thần, đại vận không gặp thủy vượng, nên tuy gặp xung mà vẫn tốt đẹp. Cách cục tương tự, nữ mệnh sau:

Thực Thương Đinh hỏa có gốc tại chi năm, chi giờ, chuyển hóa Kiếp sinh Tài, Nhật chủ, Tỷ Kiếp chiếm 5/8 vị trí can chi nên rất mạnh. Mệnh chủ có bát tự này là một nữ quản lý trong ngành tài chính, tài vận tốt đẹp.

Thực Thương Tài Tinh quá vượng

Do Nhật chủ, chi tháng luôn sinh Thực Thương, nên nếu Thực Thương có tỷ lệ xuất hiện ở can chi nhiều bằng hoặc nhiều hơn Nhật chủ, Tỷ Kiếp, Ấn Kiêu là có nguy cơ thành hao tiết thân quá vượng, cần có Ấn tinh, Tỷ Kiếp bổ trợ. Ví dụ Nữ mệnh:

Can chi Tài Tinh, Thực Thương chiếm 4/8 vị trí, là ngưỡng hơi vượng, nhưng nhờ địa chi tàng ẩn Tỷ Kiếp nhiều nên không quá vượng. Tài vận không xấu, nhưng hôn nhân, con cái gặp nhiều vấn đề do Thực Thương trụ giờ nhiều gốc mà không có chế hóa.

Nữ mệnh có cách cục tương tự, tình trạng tương tự.

Kurt Cobain

Thực Thương là Bính Đinh đồng thời thấu can, sinh tiết cho các chi Mùi Tuất phản khắc với gốc Nhật chủ, nên là Thực Thương Tài tinh vượng, Nhật chủ bị tiết tú cần được sinh trợ. Ấn tinh Nhâm thủy hư phù không gốc, lại bị Đinh hỏa hợp mất, dụng thần bị hợp chế, hung cách. Từ 1987 vận Tý thủy Thiên Ấn tương sinh, bắt đầu thành công, đầu vận Kỷ thổ, năm Giáp Tuất bị trầm cảm, tự sát.

Tòng nhược cách

Xem phần tòng cách chương 10.

Tỷ Kiếp phối Quan, Sát

Nguyệt lệnh Tỷ Kiếp mà Quan Sát có lực luận như nguyệt lệnh Chính Quan, Thất Sát. Thường thì với nguyệt lệnh Tỷ Kiếp, Quan tinh sẽ ưu tiên Tài làm dụng, ngoại trừ trường hợp Thực Thương mạnh thì mới dụng Ấn Kiêu. Ví dụ: Nam mệnh

Địa chi có 2 chi Chính Quan Thân kim được Tài tinh sinh trợ có lực, nên lấy làm dụng thần. Chính Quan được Tài có lực tương sinh nên cách cục đẹp. Từ vận Mậu, vận Tài tinh, bắt đầu thành công đến nay. Dụng Quan đại kỵ Thực Thương mạnh mà Tài nhược. Ví dụ nữ mệnh:

Bính hỏa thấu can tại trụ giờ, có gốc tại chi ngày nên lấy Sát làm dụng, Thực Thương quá mạnh chế Sát thái quá thành hung. Mất vận Quý Dậu lưu niên Quý Hợi.

Chương 16 — Nguyệt lệnh Thực Thần - Thương Quan

Thực Thần cách - Thương Quan cách Thực Thương (Thực Thần - Thương Quan) là thần Nhật chủ sinh cho, chúng là đại diện cho những đứa con về tinh thần và cũng có thể đại diện cho cả những đứa con về mặt sinh học, về mặt tình nghĩa. Khi nhìn nhận ở phương diện cá nhân, thì chúng là thần đại diện cho sự đam mê, hoài bão. Tổ hợp tốt là những đam mê được chuyển hóa thành những thực thể thành công. Tổ hợp không tốt là những đam mê bị đè nén, bế tắc, không thể chuyển hóa. Thực Thần - Thương Quan cách được nhìn nhận là các cách cục khá phức tạp, có những biến hóa rất khác nhau, có phần khác biệt với các cách cục khác. Để luận đoán bát tự có nguyệt lệnh Thực Thương đầu tiên ta phải xác định được đâu là thần chiếm ảnh hưởng mạnh nhất, là Ấn Kiêu, Quan, Sát, Tài tinh, hay Tỷ Kiếp Thực Thương, sau đó mới có thể chọn dụng thần phù hợp.

Nhận thức chung về Thực Thần, Thương Quan

Thực Thương dưới góc độ là đứa con tinh thần

Trong cuộc sống thứ chúng ta sinh ra là gì? Là thứ ta muốn nuôi nấng, chăm sóc, chăm lo cho sự phát triển của nó nói chung chứ không riêng gì con cái của chúng ta cả. Thực Thương có thể là vật nuôi, một tác phẩm - đứa con tinh thần, là một dự án khiến bạn tham gia say mê vì bạn

tin rằng việc hoàn thành dự án đấy sẽ phát triển các giá trị bản thân cho bạn, chứ không hoàn toàn vì giá trị vật chất trước mắt nó mang lại. Những đứa con tinh thần này được chia thành 2 loại: + Dạng Thực Thần: Thực Thần là thần Nhật chủ sinh nhưng không hợp tính âm dương, tức là bạn thích chúng mà không mê muội, phù hợp mới được chăm sóc, không hợp bạn sửa đổi, hoặc bỏ đi, có sự chọn lọc, thành ra đa phần là “con” ngoan. + Dạng Thương Quan: Thương Quan là thần Nhật chủ sinh nhưng hợp tính âm dương được chiều chuộng vô điều kiện. Do tính hợp khiến bạn không tiếc công sức, cưng chiều nó bất kể nó ngoan hay hư, có theo chủ ý của bạn hay không, không có sự chọn lọc. Thành ra chúng dễ là những đứa “con” nghịch ngợm. Tuy có sự khác biệt như vậy nhưng nhìn chung chúng đều có nhiều đặc điểm chung, Thực không phù hợp cũng hư, Thương được điều tiết vẫn ngoan. Nên tôi xếp chung thành 1 nhóm chính để định cách cục.

Nhận diện cách cục

Nguyệt lệnh có chủ khí là Thực Thần hoặc Thương Quan. Nguyệt lệnh Thực Thần không thấu can Thực Thương, hoặc chỉ thấu Thực Thần là Thực Thần cách, còn lại là Thương Quan cách. Thực Thương là thần được Nhật chủ tương sinh, vừa có thể làm hao tiết Nhật chủ lại vừa có thể khắc Thất Sát bảo vệ Nhật chủ nữa. Như Nhật chủ là mộc thì Thực Thương là hỏa.

Một số điểm chính cần nhớ khi luận nguyệt lệnh Thực Thương

Chi tháng trực tiếp bị phá hoại là điều đáng

lo ngại Nó giống như rất tệ khi ta phải từ bỏ niềm đam mê vậy. Chi tháng là trung tâm thu nhận của bát tự, vì thế nó như nơi lưu giữ giấc mơ của bạn vậy, cần dựa vào nó để phát triển chứ đừng làm hỏng nó. Khi luận bát tự chi tháng bị trực tiếp khắc phá thì là 1 điểm có nguy cơ gây xấu. Xem thêm phần tổ hợp Thực Thương phối Ấn Kiêu.

Thực Thương cần chuyển hóa, vận động

Tất cả các đam mê thực sự đều tiêu tốn rất nhiều nguồn lực của bạn. Nếu chúng không mang lại các giá trị cụ thể nào thì bạn chắc chắn sẽ bị phá sản về tiền bạc, vật chất và tinh thần. Khi luận về Thực Thương chúng ta cần hiểu chúng có thể mang lại cho chúng ta một số lợi ích, nếu không sẽ là một cách cục thất bại. Mệnh có Tài tinh, Quan Sát, khiến Thực Thương đi sinh khắc chuyển hóa thì mới thành mệnh tốt, nhưng quá trình chuyển hóa, vận động này tùy tổ hợp mà có tốt hoặc xấu, sẽ được trình bày ở các cách cục cụ thể.

Tổ hợp Thực Thương phối Ấn Kiêu

Nhận dạng và kiến thức tổng quan

Thực Thương cách mà có Ấn Kiêu có thể thành cách tốt, nhưng Ấn Kiêu mạnh và trực khắc nguyệt lệnh lại có thể thành cách rất xấu nên Ấn Kiêu là đối tượng đầu tiên chúng ta nên xét. Các câu hỏi để nhận định như sau:

Câu hỏi 1: Bát tự có Ấn kiêu xuất hiện không? Ấn có gốc không? Có được sinh trợ không? Ấn kiêu có mạnh hơn Thực Thương không? Ấn kiêu có khắc phá Thực Thương trực tiếp không? Nếu có, có Tài tinh khắc Ấn trợ Thực không? Nếu Ấn tinh yếu hơn Thực Thương, có bị Tài tinh chế khử không? Nếu có Quan, Sát, Tài mạnh hơn Ấn Kiêu thì chuyển sang các nhóm tiếp theo. + Tổ hợp tốt: Ấn kiêu và Thực Thương hài hòa, Ấn Kiêu không quá mạnh khắc chế chi tháng. Ấn Kiêu khắc chi tháng mà có các can chi khác cứu trợ chi tháng. Hai bên cùng tồn tại ổn định. + Tổ hợp xấu: Ấn Kiêu quá mạnh khắc Thực Thương mà không có kiềm chế, cứu trợ.

Thế nào là Ấn Kiêu trực tiếp khắc?

Có 3 tình huống chính sau đây: + Thứ nhất: Là Ấn Kiêu vừa mạnh vượt trội so với Thực Thương lại vừa đứng cạnh khắc thẳng vào nguyệt lệnh. + Thứ hai: Ấn Kiêu mạnh lại xuất hiện ở can tháng khắc xuống mà không có Tài tinh kiềm chế hay Tỷ Kiếp ngăn cách để bảo hộ nguyệt lệnh. + Thứ ba: Nguyệt lệnh tham gia hội hợp với các can chi khác xuất ra ngũ hành Ấn Kiêu tàng ở bên trong. Trong các tình huống này nếu Thực Thương thực sự đủ mạnh hoặc Tài tinh đủ mạnh khắc Ấn thì Ấn trở thành dụng thần, nếu không lại thành kỵ thần, đôi khi khoảng cách giữa hỷ và kỵ khá mong manh, chỉ cần 1 chữ thay đổi cũng có thể tạo khác biệt về cách cục.

Các tổ hợp cụ thể và minh họa

Có một số ví dụ về cách cục này để người học dễ hình dung như sau: Ví dụ 1: Ấn Kiêu cường khắc chế Thực Thương quá đà. Nam mệnh Canh Tuất - Mậu Tý - Tân Mùi - Đinh Dậu

  • Ấn kiêu Mậu thổ thấu tại can tháng, có gốc tại chi năm, chi ngày. Được Thất Sát Đinh hỏa tương sinh, Sát cũng có lực bởi gốc gần tại Mùi. + Ấn mạnh hơn Thực Thần Tý thủy bởi Quý thủy không thấu, lại không có địa chi hành thủy khác tương trợ.

  • Ấn kiêu khắc gần Thực Thần, Mậu vừa khắc vừa hợp Tý cùng 1 trụ, chi Tuất, Mùi đứng ở 2 bên cùng tương khắc + Tài tinh không xuất hiện để kiềm chế Ấn mạnh. => Kết luận: tổ hợp bát tự này có đầy đủ các tiêu chí để khẳng định Ấn Kiêu quá mạnh khắc chế Thực Thương.

Đây là bát tự của một người đã từng hơn mười mấy năm ngồi tù, đi tù từ vận Tân Mão, ra tù cũng làm tiêu tán nhiều tài sản được kế thừa. Tại sao vận Mão Tài tinh lại không giúp chế Ấn Kiêu giúp Thực Thương, lại còn phát sinh sự xấu? Xin mời các bạn xem phần luận hành vận để hiểu hơn. Vẫn mệnh lý Ấn Kiêu khắc chế Thực mạnh. Ví dụ 2: Nam mệnh ZX - Nhâm Ngọ - Giáp Y - Giáp Tý (XYZ không phải Tài tinh, X hỗ trợ Ngọ, Y hỗ trợ Tý, Z sinh cho can tháng, X không khắc Y) - Bát tự có Ấn Kiêu xuất hiện, Nhâm là Ấn có gốc tại chi ngày, chi giờ, được can năm tương sinh. - Thương Quan Đinh tại Ngọ không thấu, chỉ được chi năm tương trợ, không thể mạnh bằng Ấn Kiêu thấu ở Can tháng lại được can năm tương trợ, Ấn mạnh hơn Thương. - Ấn Kiêu thắc Thực Thương trực tiếp, tại can tháng khắc xuống, chi ngày giờ khắc sang. - Không có Tài tinh khắc Ấn. Tài tinh chỉ là tàng can, không khắc Ấn Kiêu cứu Thực Thương

So với mệnh trước thì mệnh này có chi năm hỗ trợ Thương Quan, Sát tinh không căn, tuy nhiên chỉ hỏa tàng đấu thủy thấu mà không có trợ lực thì cũng khó chống cự lại được. Đây cũng là một loại mệnh lý Ấn Kiêu khắc Thực Thương quá mạnh mà không tốt. Một người mang bát tự này từ nhỏ quan hệ với cha mẹ anh em đã không tốt, lớn lên học hành thi cử không thuận lợi, vận Kiếp Tài có thời gian kinh tế khá hơn nhưng cuối cùng cũng không thực sự được hưởng thành quả mình kiếm được, vận Dậu kim năm có tàng Nhâm thủy phát hiện bị bệnh nan y, tuy chưa ảnh hưởng tới sức khỏe ngay nhưng khá tiêu cực tới tinh thần, nhưng nhờ chi năm hỗ trợ chi ngày nhập vận Thực Thần, Tài tinh Bính Tuất thì tốt hơn.

Tổ hợp bát tự có Ấn gần Thực nhưng có Tài chế Ấn không quá mạnh, đôi bên cùng song song phát triển. Ví dụ 3: Nam mệnh ZX - Mậu Tý - Tân Y - Canh Dần (Y là gốc cho Mậu)

Thông tin bát tự của một quan chức hành pháp. Ấn toạ can tháng khắc Thực, Ấn cũng có gốc, lại được Sát trụ giờ tương sinh không phải yếu. Thực tuy không thấu nhưng kết đảng ở địa chi, không hề yếu, Ấn Thực hài hòa, sự nghiệp tương đối tốt, hôn nhân ổn. Để người học hiểu cụ thể hơn, hãy cùng phân tích một mệnh mẫu trong sách, cũng là đôi bên cùng song song tồn tại, Ấn vượng nhưng không hoàn toàn ở gần để khắc Thực thành tốt. Ví dụ 4: Nam mệnh

Nhâm Tuất - Kỷ Dậu - Mậu Ngọ - Đinh Tỵ

  • Ấn tinh Đinh hỏa thấu trụ giờ, lại có 2 chi Tỵ, Ngọ làm gốc, nên Ấn tinh mạnh. Thương Quan Dậu kim không thấu Tân nhưng lại có Tuất tương sinh và Tỵ bán hợp cũng hỗ trợ 1 phần. - Kỷ thổ can tháng sinh trợ Thương không để hỏa khắc kim thái quá, nên đây là cách cả Ấn và Thương tuy khắc nhau mà cùng có lực. - Lại hay thấu Tài hợp Ấn mà không khắc Ấn.

Mệnh này Ấn hơi nặng khắc Thương Quan, nhưng không nhập vào khắc tuyệt nguyệt lệnh, có Nhâm thủy Tài tinh điều chế bớt lại, lại mừng được Tuất thổ bán hội cũng

góp phần sinh hóa hỏa sinh kim. Thành ra Ấn Thực hài hòa, cân bằng, Ấn hơi vượng, vận kim, thủy thì tốt hơn, hành vận lại sớm chạy qua các vận Tân Hợi, Nhâm Tý, Quý Sửu là tốt bởi vận bệnh thần có chế, các vận Giáp Dần, Ất Mão không tốt bằng. Nếu Tài mạnh hơn Ấn thì xem cách Thực Thương phối Tài, nhưng Tài quá mạnh thì vốn có thể xấu, như 1 dạng tổ hợp kết hợp giữa 2 cách cục này như sau. Ví dụ 5: Nam mệnh: Tân Mùi - Bính Thân - Kỷ Dậu - Nhâm Thân

Ấn tinh Bính hỏa thấu ở trụ tháng, có gốc tại Mùi nhưng Tài tinh Nhâm thủy trụ giờ mạnh hơn hẳn lấn át. Nhật chủ cũng có gốc tại trụ tháng nhưng yếu hơn hẳn so với Tài. Vận Mão tài sinh Sát, phạm pháp đi tù dài hạn.

Vẫn là thấu Ấn, Tài mạnh nhưng khi bát tự cấu thành tổ hợp Thực Thương sinh Tài mạnh, Nhật chủ không gốc thành tòng Tài, Ấn Kiêu lại trở thành thần kích dụng thần trở nên năng động. Ví dụ 6: Nam mệnh Đinh Dậu - Kỷ Dậu - Mậu Tý - Nhâm Tý

Ấn tinh Đinh hỏa thấu can năm không có gốc, trụ giờ Nhâm thủy vượng tướng vừa hợp vừa khắc chế Đinh hỏa, Kỷ Dậu đứng giữa cũng không có gốc, không cản nổi Nhâm đến khắc Đinh. Dụng thần Nhâm Tý trụ giờ nên toàn cục thuận chiều, có đi sinh khắc mà động, mệnh cục tốt. Hành vận phần nhiều qua các vận mộc, hỏa sinh cho bệnh thần có chế nên thuận lợi. (Ví dụ 5, 6 vốn thuộc phân loại cách cục khác, nhưng tôi vẫn đưa vào để người học đánh giá được toàn diện vai trò của sự xuất hiện Ấn Kiêu trong nguyệt lệnh Thực Thương.)

Thường thì khi Ấn Kiêu quá yếu thì có thể đưa về cách cục khác, nếu như thấy Tài Quan chuyển sang cách cục Thực Thương phối Tài Quan.

Xác định tổ hợp Thực Thương gặp Chính Quan

Nhận dạng và kiến thức tổng quan

Nguyệt lệnh Thực Thương thấy Quan, thì ta cần lưu ý 3 tình huống: + Quan có lực: dụng Quan + Quan yếu được Tài sinh: dụng Tài, Quan + Quan yếu không được Tài sinh có chế: Thương Quan kiến Quan Ta có thể nhận dạng cách cục qua các câu hỏi như sau Câu hỏi 2: Bát tự có Chính Quan hay không? Nếu có thì xem nó có được Tài sinh hay không? Có được Ấn hộ về không? Có lực không? Nếu không, nó có được chế khử hoàn toàn hay không? Nếu Chính Quan không bị khử lấy Tài, Quan, Ấn làm dụng, hỷ thần (tương tự như Chính Quan cách). Nếu Quan quá yếu, không nhận được Tài sinh hoặc không có thì xem các cách cục khác.

Tổ hợp cụ thể và ví dụ minh họa

Chính Quan được Tài sinh vượng, Tài đóng vai trò chuyển hóa Thực Thương sinh Quan trở thành tổ hợp tốt. Nếu Tài, Quan đóng ở trụ giờ thì là cách tốt. Ví dụ 7: Hoàng Thân Anh Quốc Philip Tân Dậu - Giáp Ngọ - Giáp Thìn - Kỷ Tỵ

  • Bát tự không có Ấn - Chính Quan Tân kim tọa chi Dậu kim có gốc vững - Chính Quan được Tài tinh Kỷ thổ và Thìn thổ sinh - Chính Quan có lực mạnh Mệnh này lấy Chính Quan Tân kim làm dụng thần. Nếu lấy Chính Quan là trung tâm thì trụ tháng hỏa khắc kim chính là bệnh, dụng thần được trụ ngày sinh trợ, có bệnh có thuốc. Trụ giờ cũng là hỷ thần, Tỵ tuy là Thực Thần nhưng Tỵ Dậu cũng củng hợp củng cố cho Tân, vận Canh kim cưới vợ. Bắt đầu vận Tân kim cũng là thời điểm vợ trở thành Nữ Hoàng. Cả đời không gặp sóng gió quá lớn, được nhiều người ngưỡng mộ, tôn trọng, thọ trăm tuổi. Mệnh dụng Quan tinh cần Tài tinh mạnh sinh Quan thì có nhiều cơ hội trở thành mệnh tốt, tuy nhiên, cần Quan tinh có gốc vững, được Tài mạnh sinh phù hợp, nếu chỉ được Tài vượng sinh mà gốc không mạnh thì gặp vận Thực Thương thì vẫn cần có thể phát sinh sự xấu. Ví dụ 8: Nữ mệnh

Z X - Ất Hợi - Canh Y - Đinh Hợi (Y có thể làm gốc cho Đinh hỏa, không bị Hợi xung phá mạnh)

Ấn kiêu tàng không thấu, mà có Quan Sát có gốc thấu được Tài sinh, không xét cách Ấn Kiêu phối Thực Thương. Bát tự có Chính Quan Đinh hỏa, được Tài tinh Giáp, Ất sinh, có Ấn tàng địa chi bảo vệ. Chính Quan có lực, được sinh trợ, thấu can có gốc.

Không thể chế khử, nên lấy Quan là dụng thần chủ yếu. Cũng như luận Tài Ấn ở Chính Quan cách, lấy Tài làm hỷ thần. Canh sinh tháng Hợi, Hợi tàng Nhâm là Thực Thần, thấu nhiều Tài tinh sinh Quan. Chính Quan Đinh hỏa trụ giờ, Chính Quan lại có gốc tại trụ năm, trụ ngày nên tốt, gia cảnh tốt, học tập ổn, được nhiều người biết đến. Tuy nhiên Đinh hỏa Chính Quan bị Nhâm thủy trong Hợi ám hợp, nên dù Quan được sinh trợ mạnh mà sự nghiệp không có đột phá, hôn nhân gặp nhiều trắc trở, vận Nhâm Thân, Nhâm thủy vượng mà gặp nhiều thị phi liên quan đến hôn nhân. Nhưng Quan tinh vẫn có gốc, cung hôn nhân là chi ngày là gốc của Quan tinh, nên hết vận Nhâm là có thể gặp hôn nhân tốt cũng như sự nghiệp phát triển. Bát tự có Quan tinh lại xuất hiện Tài, Thực Thương tự nhiên sinh Tài, Tài lại sinh Quan vì vậy khó mà chế khử được, nên cần Tài Quan đủ mạnh, để mạnh hơn hoặc tồn tại song song với Thực Thương, nếu Tài Quan mà yếu thì sẽ thành mệnh xấu. Ví dụ 9: Nam mệnh Jim Morrison, nam ca sĩ người Mỹ Quý Mùi - Giáp Tý - Canh Tý - Nhâm Ngọ

  • Ấn kiêu Mùi thổ yếu, bị cô lập, không có lực, lại xuất hiện Tài Quan ở can tháng, chi giờ nên không xét cách Thực Thương phối Ấn. Khi xác định tổ hợp Thực Thương phối Quan, câu hỏi cần trả lời như sau: Bát tự có Chính Quan hay không? Nếu có thì xem nó có được Tài sinh hay không? Có được Ấn hộ vệ không? Có lực không? Nếu không nó có được chế khử hoàn toàn hay không? - Có Chính Quan tại Ngọ. Có Tài sinh Quan. Có Ấn nhưng yếu không đủ hộ Quan. - Quan bị xung phá, hợp chế.

Ngọ hỏa tàng Đinh âm hỏa, khắc Nhật chủ Canh dương kim, nên là Chính Quan. Quan này yếu bởi: bị 2 Tý xung, bị 1 Nhâm cùng trụ hợp khắc, nhưng do có Tài ở trụ bên cạnh sinh Quan nên không thể chế khử được.

Tài tinh Giáp mộc tuy có gốc tại chi Mùi nhưng gốc yếu, Thực Thương thấu cả ở Nhâm, Quý, thủy mạnh lấn át mộc. Quan này tuy yếu nhưng được sinh nên vẫn là dụng thần, dụng thần bị xung phá quá nhiều, là mệnh xấu, phải dựa vào Tài sinh, mà Tài mộc bị thủy lấn át, thủy mạnh cuốn trôi mộc.

Mất năm Tân Hợi 1971 vận Tân Dậu, khi vận kim khử Giáp mộc, Hợi thủy phá Ngọ hỏa, Tài Quan đồng thời bị triệt tiêu dụng thần không có chỗ dựa. Chính Quan không bị khử sẽ được ưu tiên làm dụng thần, nhưng cũng có khi vừa được sinh mạnh mà vừa bị khắc chế, còn thực tế mệnh chủ thì vừa tốt, vừa xấu hỗn tạp. Khi Quan tinh được Tài sinh, có lực mà hơi yếu thì hành vận đóng vai trò bổ trợ khá quan trọng. Ví dụ 10 (trích sách Tử Bình Chân Thuyên) Mậu Thân - Giáp Tý - Canh Ngọ - Đinh Sửu

  • Đinh hỏa Chính Quan trụ giờ, có gốc tại chi Ngọ, Tý xung Ngọ nhưng lại có Sửu hợp Tý giảm bớt tính xung - Quan được Giáp mộc là Tài tinh sinh, nhưng Tài không có gốc nên lực sinh yếu - Có Mậu Thiên Ấn thấu trụ năm, Kỷ tàng trong chi Ngọ, Sửu làm gốc Ấn, Mậu thổ hợp Quý trong Tý thủy góp phần hộ Quan. - Tóm lại Quan này có lực, không yếu.

Theo sách thì đây là mệnh của 1 vị Thừa tướng, lấy Quan làm dụng, vận Tài Ấn đều tốt.

Thương Quan Thương Tận

Chính Quan dù yếu nhưng vẫn có lực, thì dù bất ổn nhưng vẫn là cát. Thực Thương phá Quan là hung, giống như vội vàng lật đổ lãnh đạo, đưa kẻ chưa sẵn sàng, chưa có kinh nghiệm lên điều hành chỉ làm rối loạn nội tình. Chính Quan thực sự yếu, vô lực, không được tương trợ, Thực Thương lại thế mạnh áp đảo toàn diện, giống như người đứng đầu kém tài, Tỷ Kiếp Thực Thương khởi nghĩa giành quyền, lại có lực mạnh dẫn dắt đoàn tàu đột phá đi lên, sự thay thế hợp lý là tốt. Nếu Chính Quan nhược bị chế khử hết thành cách Thương Quan Thương tận.

Ví dụ 11: Ví dụ nữ mệnh dưới đây

Trụ năm có Chính Quan, địa chi tàng Tài, Sát. Thực Thương khắc Quan thành cách Thương Quan Thương tận, hành vận lại chạy qua vận hỏa thổ nên kinh tế ổn định. Duy có vận Mậu Ngọ là hỏa thổ cùng xuất hiện, Dần Ngọ bán hợp hỏa, hóa mộc sinh thổ quá nhiều nên mộc không thể trấn áp được thổ mà rối loạn cách cục. Qua vận Mậu lại ổn định.

Ví dụ 12: (Trích sách Tử Bình Chân Thuyên) Nam mệnh: Quý Hợi - Kỷ Mùi - Bính Ngọ - Kỷ Sửu

  • Có Chính Quan Quý có gốc tại Hợi, Sửu Hợi quá xa, Sửu bị Mùi xung, bị Ngọ hại không thành bán hội thủy được. Hợi bị Mùi vừa khắc vừa hợp. - Không được Tài sinh. Ấn tàng không đủ hộ vệ. - Can bị Kỷ thổ ngay cạnh tương khắc, chi bị Mùi thổ vừa khắc vừa hợp, không có lực để hỗ trợ can.

  • Chính Quan Quý Hợi gặp thiên khắc địa xung bị chế khử hoàn toàn Bính hỏa sinh tháng Mùi tàng Kỷ âm thổ là Thương Quan, lại thấy trụ năm có Quý Hợi là Chính Quan, vốn có thể dụng Quan, tuy nhiên Quý Hợi lại đứng cạnh trụ tháng Kỷ Mùi toàn cục lại thổ vượng khống chế thủy. Địa chi Sửu thổ vốn có thể trợ thủy phần nhỏ nhưng vừa xa cách lại bị Mùi xung, Ngọ hại không thể đến được với nhau. Mệnh này tòng thế hỏa thổ, lấy chế thủy mộc làm động như bệnh có thuốc, gặp vận thủy nhược, mộc thì tốt, hỏa thổ không tốt bằng, gặp vận thủy mạnh lại thành không tốt (xem phần Hành vận). Đầu đời qua các vận Mậu Thìn, Đinh Tị, Bính Thìn hỏa thổ nặng thành bại thất thường, không xấu cũng không tốt. Đến các vận Ất Mão, Giáp Dần, Kỷ Sửu mộc cùng thấp thổ chế táo thổ trợ thủy nên sự nghiệp tốt hơn. Tuy nhiên cũng chỉ là thành công không lớn bởi trụ giờ có Sửu thổ.

Cách cục Thực Thương phối Thất Sát

Gặp Sát cũng tương tự như Chính Quan, nhưng cần lưu ý rằng khi Sát quá mạnh thì có thể gây xấu.

Nhận diện, tổng quan

Thất Sát là hung thần, luận gần như Chính Quan ngoại trừ một số tình huống Sát quá mạnh cần chế hóa hoặc hợp ở mức độ hợp lý. Có thể nói khi Thất Sát vượng thì phải luận tượng tự như nguyệt lệnh Thất Sát. Lưu ý Nguyệt lệnh Thực Thương vẫn có thể tòng Sát. Nhận diện qua các câu hỏi hướng dẫn như sau:

Câu hỏi số 3: Bát tự có Thất Sát hay không? Nếu có thì xem nó có được Tài sinh hay không? Có được Ấn hộ vệ không? Có lực không? Thần bổ trợ cho Sát là Tài hay Ấn? Nếu không có sinh trợ, hộ vệ: thì Sát có quá yếu bị chế khử hết hay không? Nếu không bị chế khử hết thì Sát có yếu hơn Thực Thương không? Sát có sinh Ấn Kiêu khắc Thực Thương không?

Một số tổ hợp cụ thể

Ví dụ sau là mệnh lý Ấn khắc Thương có cứu giải, không thành hung cách. Gặp Thất Sát còn có thể tốt. Ví dụ 13: Nam mệnh: Giáp Dần - Đinh Sửu - Bính Tý - Nhâm Thìn

Kiêu thần Giáp Dần có gốc, được Tý thủy sinh, khá mạnh Ấn Kiêu tuy ở gần nhưng không khắc tuyệt Thương Quan Sửu, vì tuy Dần khắc Sửu ngay cạnh, Dần lại là gốc cho Đinh hỏa hóa Kiêu thần sinh cho Sửu thổ. Bát tự có thể nói phe Thương Quan và phe Ấn kiêu không quá mất cân bằng, lại có Thất Sát được hợp hóa

thành Thiên Quan thì càng tốt, chỉ là Ấn Kiêu mạnh hơn Thương Quan mà thôi.

Nhưng vẫn cần sinh trợ Thực Thương để đảm bảo Ấn Kiêu không quá đà, hành vận trợ Thương Quan tốt, gặp vận Ấn Kiêu cũng là ổn nhưng không quá thành công, vận Quan Sát bình thường. Sự nghiệp thành danh. Hôn nhân cơ bản là tốt đẹp. Từ vận Canh Thìn trở đi đều là những vận tốt. Thực Thương yếu thì cần Ấn Kiêu hóa Sát như Nguyệt lệnh Thất Sát. (Ấn mà khắc Thực Thương quá độ thì nhận diện như các cục Thực Thương phối Ấn Kiêu) Ví dụ 14: Nữ ca sĩ Mỹ Janis Joplin, 19/1/1943 giờ Thìn Nữ mệnh Nhâm Ngọ - Quý Sửu - Đinh Sửu - Giáp Thìn

  • Có cả Chính Quan, Thất Sát. Quan Sát hỗn tạp coi như Sát. - Sát không có Tài sinh nhưng có Ấn hộ vệ. - Thông căn nguyệt lệnh, Quan Sát cùng thấu có lực mạnh mẽ. - Sát mạnh hơn Thực Thương, luận như nguyệt lệnh Thất Sát cần Ấn Kiêu hóa Sát sinh thân. Nhật chủ Đinh hỏa mà trụ tháng năm đều có Quan, Sát là Quan Sát hỗn tạp, lại thông căn nguyệt lệnh, khi này Thực Thần Kỷ trong Sửu không còn đủ năng lực chế Sát thành Thiên Quan nữa mà buộc phải dùng Ấn tinh Giáp tọa Thìn vốn là có gốc dù không mạnh, tuy nhiên Quan Sát hỗn tạp lại có 2 Sửu tàng Quý làm gốc, Đinh hỏa tọa Sửu hư phù, Ngọ hỏa vốn là gốc nhưng ở xa, lại bị khắc chế, dẫn đến Đinh hỏa không đủ sức chống đỡ. Năm Canh Tuất, vận Canh Tuất, thiên khắc địa xung với trụ giờ Giáp Thìn qua đời.

Cách cục Thực Thương phối Tài tinh

Nhận diện - Tổng quan

Bát tự có Tài tinh không? Tài có được Thực Thương sinh ổn định không? (Bị Tỷ Kiếp hợp phá không hay là Thực Thương thái quá có thể vùi lấp Tài tinh). Nhật chủ có gốc không? Có lực không? Có tòng theo thế Thực Thương Tài Tinh không? Thực Thương nguyệt lệnh có Tài tinh thường là tốt. Nhưng phải dựa trên các câu hỏi trên để phân định rõ ràng 3 tình huống như sau. + Tình huống thứ nhất, Tài tinh không quá mạnh, Nhật

chủ không bị hư phù, không quá yếu so với Tài tinh. + Tình huống thứ hai, Tài tinh không quá mạnh so với Nhật chủ, Nhật chủ bị hư phù, nhược. Nhưng Nhật chủ cũng không đến mức quá yếu so với Tài tinh. + Tình huống thứ ba, Tài tinh quá mạnh so với Nhật chủ, Nhật chủ không có gốc hoặc gốc yếu. Về bản chất chỉ cần Tài không quá vượng so với Nhật chủ thì sẽ tốt, nếu điểm Quan Sát bổ trợ thì càng tốt, tuy nhiên cần LƯU Ý khi Nhật chủ quá yếu so với Tài thì sẽ có thể không tốt, nếu Tài tinh ổn định, Nhật chủ yếu hơn Tài tinh thì cần Tỷ Kiếp địa chi bổ trợ cho Nhật chủ. Nhưng dù sao Tỷ Kiếp vẫn là Kỵ thần của Tài thì cần lưu ý bố cục, nếu Tỷ Kiếp hợp khắc Tài thì xấu, gặp vận Ấn Kiêu vượng thì chưa vội khẳng định là tốt được, bởi vì bản chất việc gặp Tỷ Kiếp là tốt ở đây là Tỷ Kiếp bổ trợ cho Nhật chủ để dụng Thực Thương sinh Tài được thuận lợi.

Cách cục cụ thể và minh họa

Bát tự Tài vượng gặp Tài vẫn tốt. Ví dụ 15: Nhâm Tý - Mậu Thân - Mậu Dần - Quý Sửu

Bát tự này Tài vượng, với 2 Tài thủy thấu can, nên không tính là cách dụng Quan, trụ giờ Quý hợp với Nhật chủ thì cũng không gọi là Tài lộ nghiêm trọng. (Xem nguyệt lệnh Tài Tinh). Nhật chủ Mậu có chỗ dựa tại Mậu trong trụ tháng và chi Sửu trong trụ giờ, nên là có lực. Bát tự tuy thủy mạnh mà Nhật chủ có lực vẫn yên tâm dụng Tài, Quan. Tài tinh ở trụ giờ, mệnh thuận chiều, dụng thần vượng tướng. Tuy nhiên thấu can năm bị khắc bởi can tháng nên dù sao thì đây vẫn là Tài bị kiếp đoạt. Khiến mệnh cục bất ổn.

Thuở nhỏ vận Thân, Dậu, cha nghiện rượu, cha mẹ ly dị, sống với mẹ. Vận Tuất, Dần Tuất hợp hối hỏa khắc kim, sự nghiệp bắt đầu thành công. Vận Tân Hợi, đầu vận Tân kim có lực gặp lưu niên Mùi, Thân, Dậu xuất ra nên không thuận lợi, thị phi, tình cảm bất lợi. Vận Hợi, Nhâm, Tý, Quý đều là những thời kỳ thuận lợi. Thực Thương sinh Tài nhưng Nhật chủ không gốc bất ổn, ngoại trừ cách tòng thì sự bất ổn này đều cần được xử lý. Nhưng bổ trợ không phải để Nhật chủ vượng lên mà để ổn định đủ để dụng được Tài tinh.

Ví dụ 16: Nam mệnh: Đinh X - Nhâm Tý - Tân Mão - Canh Dần

Tài tinh là Dần Mão xuất hiện ở địa chi, Thương Quan mạnh nhưng không thái quá, không chèn ép Tài tinh, thấu 1 can Sát lại có Nhâm hợp là tốt. Trọng yếu của mệnh cục là Thực Thương sinh Tài. Nhật chủ không có gốc, nên khai thác Tài tinh có lúc hiệu quả có lúc không. Ngày nhỏ vận Tân Hợi, thủy mộc vượng gia đình có nhiều biến động về công việc của cha mẹ. Học hành không quá thuận lợi, nhưng thông minh, nhạy bén.

Vận Canh Tuất, Tuất thổ bị Tài hợp chế nên không giúp gì nhiều, cuộc sống có thuận lợi hơn nhưng vẫn chưa thực sự tốt. Canh ở thiên can không giúp gì được nhiều, nhưng sức phá hoại cũng không lớn, xem phần Hành Vận được chi nhưng không được can. Vận Kỷ Dậu, có Dậu kim trợ Nhật chủ Canh kim, bắt đầu kiếm được tiền, năm địa chi kim tự mua được nhà, được xe, có tích lũy. Cũng có thể nói là tiền tài tương đối thuận lợi. Tuy nhiên bản chất Can hư phù nên biến động tài chính mạnh. Vận Mậu Thân, Nhật chủ gặp chi Thân, dương kim cũng trợ âm kim nhưng có phần hơi mạnh, vận này cơ bản vẫn tốt, nhưng phải đối diện với một số năm tiền tài biến động mạnh. Bát tự Tài tinh Thực Thương quá vượng, Tài lộ nhiều can, hoặc Tài còn xuất hiện nhiều hơn Thực Thương, Nhật chủ có gốc nhưng gốc yếu, lại không cùng trụ, hoặc sinh hóa Thực Thương quá nhiều, hoặc Nhật chủ không có gốc, khi đó thành cách tòng Tài (xem thêm ở phần Tòng Cách) khi đó gặp vận Tỷ Kiếp có thể thành xấu.

Ví dụ 17: Nữ mệnh: Mậu X - Mậu Ngọ - Giáp Ngọ - Bính Dần

Tài tinh Mậu thổ xuất hiện nhiều lần, Bính hỏa Thực Thần thấu can, xu hướng khí thể trong bát tự chính là một khí thể hỏa thổ rất mạnh, Nhật chủ có gốc tại giờ nhưng Dần lại là gốc của Bính hỏa, Dần không chuyên tâm trợ Giáp nên đây là cách tòng theo khí Thực Thương Tài Tinh. Tuy nhiên Tại địa chi lại có bán hội thành gốc Tỷ Kiếp, gốc này vốn là không đủ vượng để thành cách Thương Thương phối Tài, tuy nhiên lại quá nhiều với một cách tòng, dẫn đến đây là cách tòng Tài dang dở, tòng cách bị phá, hành vận lại sớm gặp mộc vận, vận Mão phát hiện bệnh nặng ở Gan, vận Giáp qua đời.

Vẫn là một mệnh yểu, nhưng do Tài tinh quá vượng mà Nhật chủ hư phù, lại thêm đại vận sớm gặp Tài tinh như sau: Ví dụ 18: Mậu Thìn - Canh Thân - Kỷ Dậu - Quý Dậu

Kỷ thổ tuy có gốc tại Nguyệt lệnh nhưng là gốc yếu, yếu hơn rất nhiều so với Quý thủy Tài tinh. Hành vận gặp Nhâm Tuất, Quý Hợi trở nên rất xấu.

Một số dạng tổ hợp còn lại

Còn lại là những tổ hợp Tỷ Kiếp Thực Thương là chủ yếu trộn 1 hoặc 2 can chi thuộc hành khác, theo nghiệm lý của tôi nhóm mệnh này ít khi thấy quý cách, cũng không

nhiều mệnh phá cách. Dụng thần thường là Tài tinh, thần giúp mệnh cục động là Quan Sát, kỵ thần thường là Ấn Kiêu, và các thần xung với nguyệt lệnh. Cách cục này có thể bị ảnh hưởng bởi hành vận khá mạnh. Cơ bản như đã nhắc đến ở mục 2 cùng chương. Ví dụ 19: Nam mệnh Đinh Mão - Bính Ngọ - Ất Mùi - Bính Tý

Đây là tổ hợp có các can chi hành mộc hành hỏa. Địa chi có Tý thủy là Kiêu thần chống lại khí thế mộc hỏa, lại bị Ngọ Mùi liên hợp chế Kiêu, kỵ thần thành bệnh thần có chế, nên vận gặp hỏa, thổ, thủy đều tốt, nhưng gặp vận Mão thì lại kém tốt, bởi Mão bán hợp với Mùi hợp khắc Tài tinh, khí thế bát tự không vận động mạnh được.

Ví dụ 20: Nam mệnh: Tân Mùi - Mậu Tuất - Bính Dần - Mậu Tuất

Tài tinh có gốc thấu can năm được lấy làm dụng thần. Nhưng không tốt khi xuất hiện Dần Tuất bán hợp thấu hỏa lên. Vận Bính, Bính Tân hợp khắc dụng thần phát hiện bệnh liên quan đến máu, năm Bính vận Ất Mùi mất.

Ví dụ 21 (trích từ sách Trích Thiên Tủy Bình Chú Nhậm Thiết Tiều) Quý Hợi - Giáp Dần - Quý Hợi - Giáp Dần

Nguyên cục toàn khí thủy mộc, Tỷ Kiếp Thực Thương, có hỏa thổ tàng trong trụ tháng vẫn là tàng ẩn điều tốt. Vận kim thủy Ấn Kiêu Tỷ Kiếp không tốt, không tự thi cử đỗ đạt được phải cống tiền làm quan, gặp đại vận có Quan, Sát thì được làm quan.

Chương 17 — Dụng thần và mức độ tốt xấu của mệnh cục

Qua việc định cách cục, ta xác định được xu hướng vận hành trong bát tự, và các thần thúc đẩy xu hướng tích cực là dụng thần, hỷ thần, các thần phá hoại xu hướng là kỵ thần, còn lại là 1 số thần trung gian, khi thì theo bên này, khi thì theo bên kia, hoặc một lúc tham gia cả 2 phe. Các cách cục tương tự nhau không có nghĩa là khả năng vận hành thuận lợi sẽ giống như nhau. Các bát tự dụng thần giống nhau không có nghĩa là có mức độ tốt xấu như nhau. Cũng giống như những đối thủ cạnh tranh tranh trên một đường đua, người chiến thắng phải đảm bảo được các yếu tố: sự chuẩn bị tốt - sức mạnh; khả năng ứng biến thông minh, linh hoạt; quan trọng là sức bền. Thì dụng thần trong bát tự cũng cần có các đặc điểm tương ứng là: mức độ vượng tướng, mạnh yếu; có tính năng động, có bệnh có thuốc; được trụ giờ tạo điều kiện hợp lý. Mức độ vượng tướng của dụng thần thì không quá khó hiểu với người học phổ thông, dụng thần hay can chi khác cùng được hướng dẫn cách xác định độ mạnh yếu ở chương 7 và 8. Hai yếu tố còn lại mới là vấn đề ta cần chú ý đặc biệt, tổng hòa 3 yếu tố này giúp ta nhìn nhận được bát tự nào có nhiều cơ hội đồng hành cùng với các mệnh chủ thành công.

Dụng thần không chỉ cần sức mạnh, mà cần có cả độ linh hoạt

Dụng thần vượng là tốt, nhưng quá vượng có

thể không quá tốt Trong các ví dụ ở những phần trước chúng ta đã thấy quá nhiều bát tự dụng thần yếu mà mệnh không tốt. Nhưng chúng ta cũng cần phải hiểu rằng, có những mệnh lý dụng

thần vượng tướng mà cuộc sống không có nhiều cơ hội đột phá, thậm chí nhiều thời điểm vất vả, là vì sao? Cùng so sánh 1 cặp bát tự để đi tìm câu trả lời. Ví dụ: một người bạn của tôi nguyệt lệnh Ấn Kiêu, dụng thần là Ấn, Quan tinh rất mạnh sinh trợ cho Ấn như sau: Bính Dần - Mậu Tuất - Tân Hợi - Giáp Ngọ

Ngày Tân Hợi, Tân sinh tháng Mậu Tuất, là nguyệt lệnh Ấn tinh, Ấn không thái quá, dụng thần là Ấn, Quan tinh có gốc mạnh sinh trợ Ấn, có Tài Giáp mộc can giờ khắc Ấn nhưng Tài nhược. Bát tự này thoạt nhìn tương tự như bát tự của Warrent Buffet, cũng nguyệt lệnh Ấn kiêu chế Tài. Bản thân người này cũng có tư duy hệ thống, học hành giỏi giang, cũng đam mê đầu tư cổ phiếu, cố gắng trở thành nhà môi giới chuyên nghiệp dù chưa thành công. Hai bát tự có một số điểm tương đồng, bên cạnh đó ta cũng nhận thấy một số điểm rất khác biệt.

Bát tự W.Buffet

Điểm khác biệt đáng lưu ý ở chỗ mệnh lý bạn tôi có Quan tinh vượng tướng hóa Tài sinh Ấn rất mạnh. Còn mệnh lý của nhà hiền triết xứ Omaha, Quan tinh yếu còn trợ Tài, khiến cho Ấn Kiêu và Nhật chủ phải chật vật mới khống chế gọn gàng Tài tinh, Thực Thương để bảo hộ Ấn.

Cái sự khắc chế dễ dàng và khắc chế khó khăn có thể liên tưởng đến những thanh gươm trải qua đủ nhiều lần rèn giũa mới trở nên sắc bén. Cũng như tố chất linh hoạt, ứng biến trong mỗi người được rèn luyện qua những lần thích ứng trước thử thách cuộc sống. Tôi không cho rằng Buffet rất giàu có là bằng chứng cho thấy bát tự của ông ấy tốt hơn bát tự của bạn tôi, bởi như đã nói ở chương 2, có những thứ ảnh hưởng đến vận mệnh ngoài bát tự. Nên tôi so sánh về một số khía cạnh khác thực tế hơn, phù hợp hơn so với tiền bạc, ví dụ như là mối quan hệ với cha mẹ, rõ ràng W.B có mối liên kết với cha không tồi, phù hợp với dụng thần Ấn Kiêu khá lý tưởng ở trụ năm, cũng như ông và cha ông có những tương đồng như hoạt động đầu tư. Còn bạn tôi lại nhận có một số vấn đề nhỏ liên quan đến cha mẹ, một thực tế phù hợp với tổ hợp Ấn Kiêu có phần hơi mạnh. Việc dụng thần quá mạnh thì không có đột phá không chỉ thể hiện ở việc phân định bát tự, mà còn thể hiện ở việc luận hành vận nữa. Như chúng ta thấy ở bát tự D.Trump hay G.W.Bush, dụng thần hỏa thổ vượng tướng nhưng phải đến vận kim, thủy mới đạt được những đỉnh cao trong sự nghiệp. Thực tế này không có gì khó hiểu nếu ta kết nối với lý thuyết về sự cân bằng và không cân bằng tôi đã nhắc đến ở đầu cuốn sách, đây là một phần của sự biến dịch âm dương chi phối đến tất cả vận động trong bát tự.

Ba mức độ mạnh của dụng thần

Khi dụng thần có sự chống phá, và đủ sức mạnh chống lại sự chống phá đó, giống như con người vừa có tố chất

tốt, lại được rèn giũa ở điều kiện tốt, có thể thể hiện được hết năng lực của bản thân. Vì thế mới có câu: “Hữu bệnh phương vi quý”. (Xem chương 1). Khi dụng thần là một ngũ hành vượng tướng, không có thế lực chống đối, giống như những người lớn lên trong sự bảo bọc hơi nhiều (đây là hình ảnh suy tưởng minh họa chứ không phải thực tế tất cả mệnh chủ) cuộc sống quá an toàn, do đó thiếu sự linh hoạt, không sẵn sàng đột phá. Đó chính là tình trạng: “Vô thương bất thị kỳ”. Cùng là tình trạng mạnh và “vô thương” nhưng tàng chứa thần có thể gây kích động, mà đại vận sớm gặp thần đó, hoặc hỗ trợ cho thần đó thì cũng có thể nhờ đại vận để tạo nên “hữu bệnh”. Cựu tổng thống Mỹ G.W.Bush Bát tự: Bính Tuất - Giáp Ngọ - Tân Tỵ - Tân Mão

Chính Quan Bính hỏa là dụng thần, Nhật chủ Tân kim có gốc yếu tại trụ ngày, gốc xa tại trụ năm, trụ giờ cũng thấu Tân kim, nên cũng là Nhật chủ không quá yếu để Quan trở thành Sát. Có Ấn tinh dưới Quan, Tài Ấn không khắc nhau không làm phá cái đẹp của cách Chính Quan. Tân kim tàng ẩn giống như đối trọng với hỏa, tuổi trẻ các vận mộc hỏa mạnh, kim yếu không có thành tựu gì đáng kể, thậm chí có thời kỳ nghiện rượu, ứng với tình trạng dụng thần quá vượng. Sang các vận kim thủy, Quan vượng gặp xung khắc, là “suy giả xung vượng, vượng thần phát” (chương 8) nên gặp nhiều thành công. Cuối vận Dậu bắt đầu phát triển, vận Mậu Tuất cưới vợ, vận Kỷ bố được bầu làm Tổng Thống, vận Hợi làm Thống đốc, vận Tý đắc cử Tổng Thống, vận Tân trúng cử nhiệm kỳ thứ hai. Dụng thần vượng cần xung khắc để kích động bị một số người hiểu lầm bệnh thần là dụng thần, như mệnh G.W.Bush nếu dụng thần là kim, thủy thì chẳng phải toàn cục đều là kỵ thần sao? Bát tự toàn kỵ thần thì để có cuộc sống ổn định chưa chắc đã dễ dàng chứ đừng nói có cơ hội lên đỉnh công danh.

Trụ giờ là yếu tố ảnh hưởng lớn tới sức bền của dụng thần

Nếu đời người giống như một cuộc thi đấu, trụ năm là giai đoạn chuẩn bị; trụ tháng là giai đoạn xuất phát; trụ ngày là giai đoạn chính giữa cuộc đua; trụ giờ là giai đoạn tăng tốc để về đích. Có đối thủ giai đoạn đầu vượt lên, giai đoạn cuối hụt sức thì chung cuộc phải chấp nhận thua, bên cạnh đó là những

đối thủ xuất phát không tốt nhưng lại có cuộc lội ngược dòng để chiến thắng ở phút cuối. Trong các tình huống thông thường, nếu khoảng cách giữa các đối thủ không quá lớn, thì người thi đấu tốt ở giai đoạn cuối cùng này có cơ hội lớn để nhận chiến thắng chung cuộc. Trong bát tự, thông thường dụng thần ở trụ giờ hay kỵ thần ở trụ giờ ảnh hưởng lớn đến việc xác định mệnh cục là tốt hay xấu. Tôi thường xuyên dùng một khái niệm tự gọi là “mệnh lý xuôi chiều” và “mệnh lý ngược chiều” để nhắc nhở người học ghi nhớ về yếu tố quan trọng của trụ giờ.

Trụ giờ sinh trợ thì tốt, trụ giờ phá hoại thì xấu

Một số mệnh lý sẽ giúp người học hình dung việc đôi khi trụ giờ có thể “lật ngược thế cờ” như sau: Nam mệnh: Canh Dần - Quý Mùi - Giáp Dần - Đinh Mão

Bát tự trên là của Tỷ phú người Anh, Richard Branson, dụng thần Tài tinh Mùi thổ bị Dần, Mão mộc vây quanh,

may nhờ có Đinh hỏa Thương Quan thấu trụ giờ, hóa mộc sinh thổ, nên chuyển hung thành cát. Hay bát tự Bill Gates, Tài Sát quá mạnh, trụ giờ thấu Tân có gốc tại Tuất hóa Sát sinh thân, biến Thất Sát thành Thiên Quan.

Còn khi trụ giờ phá hoại dụng thần có thể gây ra nhiều nguy cơ xấu. Như bát tự dưới, trụ giờ Giáp Dần Thương Quan khắc Quan xung Ấn, một mệnh chủ mang bát tự này vướng lao lý.

Dưới đây là 1 bát tự cũng là Tài cách như Branson nhưng can giờ tương khắc, chi giờ tương xung với nguyệt lệnh. Mệnh xấu.

Trụ giờ nhược hoặc bị khắc chế

Quay lại bát tự Warrent Buffet. Dụng thần Thiên Ấn Canh kim gặp can giờ Tài tinh Đinh hỏa khắc kim, can giờ chính là kỵ thần. Nhưng kim thủy vượng, mộc hỏa hư phù yếu thế nên bị chế khử dẫn đến Đinh hỏa kỵ thần trở thành thần dẫn động dụng thần.

Cũng nguyệt lệnh Ấn kiêu, thấu Ấn tinh tại trụ năm tương tự W.B nhưng trụ giờ lại là Thương Quan quá vượng phản khắc với Ấn, nên dù sự nghiệp cũng tốt mà không thọ, như bát tự Steve Jobs.

Các ví dụ trên đều có tính tương phản cao để người học hiểu về tầm quan trọng của trụ giờ, nhưng trên thực tế luận đoán, trụ giờ vừa có thể là sinh trợ dụng thần, vừa có thể sinh trợ kỵ thần, hay can giờ sinh, chi giờ khắc... vì thế khó khăn lớn nhất của người học vẫn là nhuần nhuyễn xu hướng vận hành của mệnh cục.

Trụ giờ vừa sinh trợ, vừa khắc chế dụng thần

Ta xác định tính tốt xấu như sau: + Ưu tiên xét can giờ, sau đó xét chi giờ. + Xem dụng thần cần được trợ giúp nhiều hay ít, nếu dụng thần mạnh rồi thì trợ giúp ít cũng đã là tốt rồi, nếu dụng thần yếu thì cần trợ giúp nhiều.

  • Nếu trụ giờ có các thành phần chống phá, sinh trợ như nhau thì tạo nên thế cục giằng co, không rõ ràng, cần dựa trên các trụ khác và các đại vận để xét đoán mức độ tốt xấu. Ví dụ: Nữ mệnh: Kỷ Tỵ - Nhâm Thân - Mậu Ngọ - Quý Sửu

Dụng thần là Kiếp, Ấn - hỏa, thổ. Trụ giờ chủ yếu là Tài tinh hành thủy, nhưng lại cũng có thổ làm gốc cho Nhật chủ, vừa tốt vừa xấu. Bát tự này các phe tranh đấu khá mãnh liệt, đại vận kim thủy nhiều nên cuộc sống không quá vất vả nhưng cũng không khá giả. Nhưng mệnh chủ sau thì có một số khác biệt.

Nam mệnh: Kỷ Tỵ - Nhâm Thân - Mậu Ngọ - Quý Sửu

Nếu bạn thấy nam mệnh này giống nữ mệnh bên trên thì bạn không nhầm đâu, tình cờ là tôi có thông tin của nhiều người sinh cùng ngày, giờ này. Nhìn chung là nam hay nữ đều là mẫu có những sự cầu tiến, và trách nhiệm với gia đình. Nữ mệnh hầu hết là đều có chút vất vả, chứ không như nam mệnh nhìn chung là cuộc sống thuận lợi hơn, nhàn nhã hơn, hoặc là chuyên gia có thu nhập cao hoặc

là chủ doanh nghiệp tư nhân. Bởi hành vận sớm chạy qua hỏa, thổ hỗ trợ cho Ấn Kiêu.

Sự tổng hợp các yếu tố

Bảng dưới đây tổng hợp một số tình huống kết hợp giữa sự vượng tướng, sự linh hoạt, và ảnh hưởng của trụ giờ, trong đó: + Tình huống 1 và tình huống 2 nếu trụ giờ bị khắc chế thì là các cách cục có thiên hướng tốt và độ ổn định trước các đại vận xấu là cao. + Tình huống 2, 4 nếu trụ giờ quá mạnh không bị khắc chế thì nếu gặp các vận xấu có nguy cơ xấu. + Tình huống thứ 3 là dạng cách cục trung bình, không xấu cũng không tốt. + Tình huống 5, có cơ hội tốt, nhưng cũng khá nhạy cảm trước tác động của hành vận. + Tình huống 6, thường là xấu, đôi khi chính hành vận tốt lại là thời điểm vận xấu diễn ra. + Các tình huống 7, 8 là một số tổ hợp đặc biệt, cần được phân tích trong những trường hợp cụ thể.

Chương 18 — Luận hành vận

Hành trình vận mệnh hay là hành vận - vận trình, là diễn biến tốt xấu của xu hướng vận mệnh trong các khoảng thời gian.

Có sách có viết: “Mệnh tốt không bằng vận tốt”, đây là một câu gây tranh cãi. Đại ý là không quá quan tâm đến phẩm chất bát tự tốt hay không chỉ cần gặp đại vận tốt thì vẫn có kết quả tốt, và ngược lại, bát tự tốt gặp vận xấu sẽ xấu. Một số nghiệm lý thấy nó phù hợp, nhưng cũng nhiều nghiệm lý chứng minh nó không hoàn toàn chính xác. Thực tế có những người sống trăm tuổi vận nào cũng giàu có, hạnh phúc, còn có người sống cả đời trong khổ cực.

Vậy cần hiểu thế nào trước những thực tiễn trái ngược? Câu trả lời là có những tổ hợp đại vận ảnh hưởng mạnh, có những tổ hợp thì không. Vận tốt phải có tiềm tàng trong mệnh tốt. Hành vận là tổng hợp của 3 xu hướng, xu hướng dài nhất là các trụ vận, xu hướng dài thứ hai là các đại vận thời hạn khoảng 10 năm, xu hướng thứ ba là các lưu niên (các năm trong đại vận) kéo dài 1 năm. Luận hành vận trong bát tự cũng như một nhà đầu tư cổ phiếu phân tích thị trường, cần xác định được các xu hướng dài hạn, trung hạn, ngắn hạn, phán đoán kết quả cộng hưởng của các xu hướng này có thể tạo ra một xu hướng chung như thế nào.

Ba yếu tố cấu thành Hành vận

  • Trụ vận: đại diện cho diễn biến hành vận nội tại trong nguyên cục. + Đại vận: Đại vận là 1 khoảng thời gian 10 năm, can chi đại vận tính theo can chi nguyệt lệnh. Thường thì đại vận có ảnh hưởng dễ nhận thấy nhất. + Lưu niên: Lưu niên chính là năm cần xét. Năm tiết khí cũng như nguyệt lệnh không tính như âm lịch. Mỗi năm tiết khí bắt đầu từ tiết lập xuân và kết thúc trước thời điểm bắt đầu tiết lập xuân tiếp theo. Mỗi năm có 1 can, 1 chi, được áp dụng để tương tác với các can chi trong bát tự và can chi đại vận để tính toán vận trình.

Các bước tính hành vận

Bước 1: Xác định tính ổn định của dụng thần. Bước 2: Xác định các trụ vận có thiên hướng tốt hay xấu. Bước 3: Xác định các đại vận ảnh hưởng tốt hay xấu đến dụng thần. Bước 4: Xác định các lưu niên ảnh hưởng tốt hay xấu đến đại vận, đến dụng thần, đến toàn cục trong bát tự.

Tính ổn định của dụng thần

Về cơ bản xu hướng vận hành nội tại của bát tự quyết định tính tốt xấu của hành vận, nhưng xu hướng này cũng có thể ổn định hoặc không, nếu xu hướng có tính ổn định thì khi gặp các đại vận, lưu niên dù có sự thay đổi nhưng không quá lớn. Còn khi xu hướng vận hành nội tại này không ổn định thì sẽ trở nên nhạy cảm trước tác động của đại vận, thậm chí nhạy cảm trước tác động của lưu niên. Khi dụng thần mạnh, linh hoạt, thuận chiều thì các hành vận chạy qua chỉ làm thay đổi từ Tốt đến Hơi tốt. Gặp những vận rất xấu thì mới phát sinh một số vấn đề xấu. Hoặc ngược lại.

Nhưng lưu ý là xu hướng hành vận kết hợp từ nhiều thành phần nhỏ, chúng không phải lúc nào cũng đi đôi với nhau, dẫn đến có những tổ hợp tốt về nhiều mảng nhưng lại xấu ở một số mảng đặc thù. Ví dụ sức khỏe, tiền tài tốt nhưng hôn nhân xấu, hoặc hôn nhân tốt nhưng tiền tài lại kém, cần hiểu rõ hành vận sẽ ảnh hưởng tới các vấn đề này ở mức độ khác nhau, trong 1 vận tốt không phải tất cả lĩnh vực đều tốt, hay ngược lại, hành vận xấu vẫn có thể có 1 số điểm tích cực. Với một số mệnh tốt nhưng không linh hoạt, hoặc không ổn định, thì đại vận có thể bổ sung phần thiếu trong tổ hợp bát tự, nhờ thế mà khi gặp vận tốt, dụng thần phát huy rực rỡ. Đó là nguyên nhân có câu: “Mệnh tốt không bằng vận tốt”, nhưng khi nghiệm lý ở nhiều trường hợp đa dạng hơn thì rõ ràng câu này không đúng. Những người sinh ra thuộc nhóm ngậm thìa vàng mà lớn như Trump, Bill Gates, Warrent Buffet thì vận tốt của nhiều người cũng chưa chắc đã bằng vận xấu của họ nếu xét trên nhiều góc độ (nhiều không phải tất cả).

Ảnh hưởng của các trụ vận

Trụ vận thực chất một phần của xu hướng vận hành chung, như một xu hướng mang tính vĩ mô, chi phối trong dài hạn, định hướng và góp phần điều chỉnh các xu hướng ngắn hạn hình thành trong đại vận, lưu niên. Xu hướng dài hạn này đôi khi cũng ảnh hưởng tương đối mạnh tại một số “điểm biến động” có thể kết hợp cùng đại vận, lưu niên thể hiện những biến đổi mạnh. “Điểm biến động” này có thể là dụng thần bị khắc, hoặc điểm có kỵ thần phát sinh phá hoại.

Khi xu hướng vận hành này là ổn định sẽ làm giảm biến động của đại vận, lưu niên, hay nói cách khác là xu hướng vận hành này sẽ định hướng ảnh hưởng của các thành phần khác ở mức độ cao hay thấp, ổn định hay không ổn định. Ví dụ, các trụ vận đều là những thần tương đối tốt mà đại vận lại là kỵ thần thay vì luận là mệnh xấu, bị kỵ thần khắc phá thì ta luận là vận kỵ thần có chế hóa kích động dụng thần khởi phát. Rất nhiều bát tự có thể lấy ra làm ví dụ minh họa, nhưng rõ thấy nhất chính là của Oprah Winffrey. Vận Bính Dần, Đinh Mão mộc hỏa thì xấu, còn vận Kỷ Tỵ, Canh Ngọ cũng vẫn có hỏa lại vẫn tốt, vì sao lại vậy?

Thời bé còn bị ảnh hưởng bởi trụ năm Quý Tỵ, trong đó Tỵ là Thương Quan, tuy là hợp Sát cục, nhưng trong hợp lại có khắc, gặp vận có hỏa dẫn đến phá Quan. Từ sau 30 tuổi là các trụ thổ kim nắm lệnh, gặp vận hỏa có thổ sinh, nên hỏa không còn phá hoại như trước.

Ảnh hưởng từ Đại vận

Đại vận đóng vai trò xu hướng chi phối chính lên hành vận. Đại vận đóng vai trò xu hướng trung hạn, trong đại vận lại chia thành các xu hướng nhỏ hơn bởi ảnh hưởng của các can chi. Đại vận có thể làm dẫn động dụng hỷ thần, ức chế kỵ thần trong bát tự hay ngược lại, giúp nhận biết vận tốt, xấu. Rồi kết hợp với tính ổn định của dụng thần, vai trò của các trụ vận để điều chỉnh mức độ tốt xấu hợp lý. Đại vận tốt, kết hợp 2 yếu tố trên là kém thì mức độ tốt giảm đi. Đại vận xấu kết hợp 2 yếu tố trên là xấu thì mức độ xấu giảm đi.

Ảnh hưởng từ Lưu niên

Trụ vận là xu hướng dài hạn, Đại vận là xu hướng trung hạn, thì Lưu niên là xu hướng ngắn hạn. Tác động lên cả Đại vận cũng như Trụ vận.

Sự kết hợp và tranh chấp giữa các xu hướng

Sự kết hợp giữa các xu hướng rất phức tạp, trên thực tế bên cạnh 3 xu hướng trụ, vận, niên thì mệnh chủ còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố ngoại cảnh như đã nói ở chương 2. Nên những gì tôi có thể chia sẻ chỉ có thể mang tính cơ bản, còn người học phải linh hoạt sử dụng trong thực tiễn.

Khi các xu hướng này có sự mâu thuẫn, trái ngược hình thành những sự tranh chấp, ví dụ trụ vận và lưu niên đồng thuận, đại vận trái ngược, hoặc đại vận lưu niên đồng thuận, trụ vận trái ngược. Thì thông thường chúng ta cần phải căn cứ theo ngũ hành vượng trong bát tự để xem xu hướng cộng hưởng sẽ phát triển thế nào. Ví dụ: Đinh Tỵ - Mậu Thân - Quý Sửu - Giáp Dần

Cách cục Quan Ấn, dụng Quan Ấn thổ kim, kỵ thần là thủy mộc. Vận Tân Hợi 25 - 35 tuổi, có Tân kết hợp trụ vận Mậu Thân khiến Ấn mạnh áp chế Thực Thương không gây hại. Nên tuy Giáp Dần gặp đất Hợi trường sinh mà vô lực. Đấy là do Trụ vận hỗ trợ phần yếu chống mạnh.

Sang vận Nhâm Tý, Tý Thân bán hợp thủy cục, hóa Ấn sinh Thương, trụ vận lại là Quý Sửu với thủy mạnh hơn thổ, Thương Quan vượng trở nên liều lĩnh, nóng vội cầu tài mà gặp rắc rối với pháp luật. Các năm Canh, Tân tuy thuộc kim, nhưng ngắn hạn yếu không chống được trung và dài hạn mạnh. Còn tại sao tại vận Hợi, Tân là phần yếu thì sẽ được lý giải ở một phần quan trọng dưới đây.

Vai trò của Can, Chi trong đại vận

Can mạnh hơn, hay chi mạnh hơn?

Mỗi vận có 1 can vận, 1 chi vận, nếu chúng cùng hành với nhau thì có vẻ dễ nhận định ngũ hành trong vận đó như thế nào, nhưng nếu chúng tương khắc với nhau thì sao? Thì mỗi giai đoạn trong đại vận Can hay Chi sẽ chiếm ảnh hưởng mạnh yếu khác nhau. Xưa nay các sách có không ít quan điểm khác nhau về ảnh hưởng của can chi trong 10 năm đại vận, có sách nói can 5 năm trước, chi 5 năm sau, có sách nói chi ảnh hưởng mạnh hơn chiếm 7 phần, can yếu hơn chiếm 3 phần, có sách nói 5 năm trước can 7 phần chi 3 phần, 5 năm sau can 3 phần chi 7 phần. Sở dĩ có sự tranh cãi như vậy một phần vì trên thực tế mỗi tổ hợp can chi đại vận có khác biệt. Ở mỗi bát tự đều có đặc thù riêng ảnh hưởng tới can chi trong đại vận mà không công thức nào thực sự triệt để cho tất cả các tình huống cả. Những gì chúng ta có thể làm chỉ là cố gắng đưa ra 1 diễn giải phù hợp với nhiều tình huống nhất có thể.

Can và chi trong đại vận hòa trộn giống như ta pha mật ong vào một cốc nước ấm vậy. Ta nghĩ là ta đã quấy đều lên nhưng thực ra để một lúc thì mật ong lại lắng xuống bên dưới, hình thành 3 lớp chính: lớp ở dưới cùng chủ yếu là mật ong, giống như thiên can, nó là dấu hiệu nhận biết vị cốc nước này với các loại nước khác, bởi can là biểu hiện

của chi, lớp trên cùng thành phần chính là nước, giống như địa chi, là chất dẫn để uống mật ong được dễ hơn, chi là chỗ dựa của can, và 1 lớp ở giữa, nó là sự hòa trộn phức tạp của nước và mật ong. Còn lưu niên giống như cái ống hút, thông thường, thì một người uống sẽ cắm cả ống hút xuống sâu, hút hết phần mật ong, xong càng hút càng thấy nhạt dần. Tùy thói quen và sở thích mà có người cắm ống hút xuống sâu, có người không thích ngọt thì cắm ống hút phần trên, có người thì dùng ống để trộn đều các phần vào nhau. Như vậy một đại vận có 10 năm, can chi đều có ảnh hưởng trong cả 10 năm ấy. Thông thường can chiếm phần chi phối trọng yếu trong 5 năm đầu, chi chiếm phần phụ; Trong 5 năm sau, chi chiếm phần trọng yếu, can chiếm phần phụ. Phần chính phụ này có thể biểu diễn bằng tỷ lệ 7/3, 6/4 hoặc 8/2. Tại một số năm, do đặc tính của năm mà các tỷ lệ này có thể bị “đảo ngược”. Từ sự pha trộn đó ta hình dung được rằng, nếu địa chi đại vận là gốc của can đại vận, hoặc chi đại vận sinh can đại vận thì can đại vận có thể có ảnh hưởng lớn hơn trong 5 năm sau. Ngược lại, nếu can đại vận sinh chi đại vận thì ảnh hưởng của chi đại vận lại có thể lớn hơn trong 5 năm trước đó. Nhưng với 1 số bát tự mà can hay chi có ảnh hưởng rất mạnh (có lực mạnh trong nguyên cục), thì ngay cả khi nó chỉ là phần phụ, nó vẫn có ảnh hưởng đồng thời cùng phần chính. Ảnh hưởng của can chi trong 1 lưu niên cũng tương tự

như can chi trong đại vận, lúc này can chi các tháng trong năm đóng vai trò như lưu niên trong đại vận.

Ví dụ minh họa

Các kiến thức trên có thể áp dụng để phân tích tất cả các tổ hợp bát tự. Ví dụ phân tích hành vận bát tự Marilyn Monroe.

  • Đại vận có can áp đảo chi như: đại vận Nhâm Thìn vận kỵ thần. Can Nhâm thủy là Thương Quan thông căn tới Quý thủy tại Thìn, nên tổng thể là hành thủy chi phối. Nhâm là Thực Thần hỗ trợ 2 can Quý Thương Quan trong bát tự, nên tổng thể đại vận này bị Thương Quan chi phối thể hiện các thông tin xấu trong vận mệnh.

  • Can chi phân quyền như: đại vận Tân Mão, Canh Dần. Trong bát tự chi Dậu và chi Dần có lực không quá chênh lệch, nên vận này cơ bản chia đều, 5 năm đầu Tân là chủ khí, nhiều thời điểm khởi nghiệp khó khăn, 5 năm sau mộc là chủ khí, sự nghiệp thành công ấn tượng. + Lưu niên kích động làm thay đổi can, Chi nắm chủ khí trong đại vận như: Vận Canh Dần vốn Canh chiếm phần trọng yếu trong 5 năm đầu, tuy nhiên năm Giáp Ngọ, Ất Mùi, Canh vốn là chủ khí nhưng gặp lưu niên có mộc hỏa mạnh, kích động Dần từ yếu thành mạnh, vẫn duy trì được sự thành công. Các năm Bính Thân, Đinh Dậu, có can Bính, Đinh có gốc tại địa chi Dần nên cũng có lực, khiến Canh kim đại vận bị suy yếu, hỏa kim tương chiến mãnh liệt nên thành công đi kèm nhiều rắc rối cả về công việc, hôn nhân, sức khỏe. Năm Canh Tý, Tân Sửu, Canh Tân hành kim, nên tuy đại vận có Dần là chủ đạo mà Canh vẫn chiếm ưu thế, xấu nhiều. Rõ ràng là để được luận hành vận thì ta cần nắm rõ lý động tĩnh, mạnh yếu của xu hướng can chi trong bát tự. Nếu xác định sai cách cục mà vẫn đúng thì đó là nhờ may mắn.

Sự tương tác giữa Can chi đại vận, lưu niên và Bát tự

Rất nhiều sách viết về luận đại vận một cách rất cơ bản, đại vận sinh trợ dụng thần là tốt, sinh trợ kỵ thần là xấu. Nhưng thực tế không phải lúc nào cũng vậy. Gặp vận Dụng thần có thể là xấu, gặp vận Kỵ thần trái lại thành tốt. Vì sao lại như vậy? Vì phải căn cứ vào sự phối hợp giữa bát tự

và đại vận. Sự phối hợp đó có thể hình thành các quan hệ ngũ hành phức tạp. Chúng ta vẫn may mắn khi có một số ít tài liệu đề cập đến sự biến hóa phức tạp của hành vận, như chương “Hành vận” trong sách Tử Bình Chân Thuyên tác giả Thẩm Hiếu Chiêm, đời Thanh. Tôi dựa trên phần này thử nghiệm trên nhiều tổ hợp đa dạng, với nhiều đối tượng mệnh chủ thì rút ra được những điều rất hay. Các tính chất này không chỉ áp dụng trong đại vận mà áp dụng cả khi phối hợp giữa lưu niên và đại vận cùng bát tự nữa.

Đại vận “biến chất”

Tôi dùng khái niệm Đại vận “biến chất” để chỉ những đại vận tưởng là dụng thần mà trở thành xấu, đại vận tưởng là kỵ thần mà lại thành tốt. Tử Bình Chân Thuyên viết: “Tưởng như có hỷ dụng mà thực ra là kị thần, là thế nào? Như Quan gặp Ấn vận, mà bản mệnh hợp mất Ấn, hoặc như Ấn gặp Quan vận, mà bản mệnh dụng Sát. Tưởng như gặp kị thần mà lại thành hỷ, là thế nào? Đó là, giả như Quan gặp Thương vận mà mệnh thấu Ấn; Tài hành Sát vận, mà mệnh thấu Thực.” Chúng ta hình dung về một cơ chế tương tác giữa các can chi trong bát tự và các can chi trong đại vận. Bởi cơ chế này mà các can chi đại vận giống như được ghép vào cũng luận với các can chi trong bát tự. Và cũng như luận bát tự, nếu can chi là dụng thần, mà can chi bị phá hoại thì xấu, ngược

lại nếu can chi là kỵ thần mà can chi bị phá hoại, khống chế thì là tốt. Ở đại vận xuất hiện dụng thần bị phá hay kỵ thần bị chế đều khiến chúng thay đổi tính cát, hung vốn có. Ví dụ Steve Jobs đại vận gặp Chính Quan, cát thần, sinh trợ dụng thần Ất mộc, vốn là tốt, đến đỉnh cao sự nghiệp, nhưng lại phát trọng bệnh, bởi bát tự thấu Thực Thần hợp Quan.

Vận Quý Dậu, Quý thủy Chính Quan thấu giúp sự nghiệp đạt đỉnh cao, tuy nhiên không may bát tự có 2 can Mậu thổ hợp khắc Quý thủy, nguyên cục thổ mạnh thủy yếu, dẫn đến phát hiện ung thư, qua đời giao vận Dậu Nhâm.

Cùng là vận dụng thần hay hỷ thần nhưng

đóng ở can vận lại khác khi ở chi vận Có 3 lý do để tạo nên sự khác nhau này.

  • Thứ nhất là sự bổ khuyết can chi. Do đặc thù của can chi, can là định hướng thể hiện của chi, chi là nguồn cung cấp năng lượng của can, vì thế can hư phù hay gốc yếu đến vận có chi là gốc thì mạnh, chi nhóm lại mà không có can thấu thì đến vận có can thấu thì mạnh. Chiều ngược lại cũng thế, can có gốc yếu đến vận phá gốc thì bất lực, các nhóm chi tương chiến mà đến vận phá mất can thì thất thế. + Thứ hai, can ưu tiên tương tác với can, chi ưu tiên tương tác với chi. Ví dụ dụng thần ở can, thì đến vận

kỵ thần ở chi có thể không bị phá hoại nghiêm trọng, dụng thần ở chi đến vận kỵ thần ở can thì vẫn có rủi ro nhưng ít ngại hơn so với vận kỵ thần ở chi, nhưng nếu can vận có hợp với can bản khí của chi thì cũng xấu. + Thứ ba, do đặc thù của thập thần, đặc thù của can chi. Ví dụ bát tự thấu Chính Quan dụng thần, gặp can đại vận là Sát thì có thể trở thành Quan Sát hỗn tạp, có nguy cơ phá cách, gặp vận Sát ở địa chi thì lại thành thêm gốc trợ can Quan. Quan gặp Tài ở thiên can là được sinh, nhưng nếu địa chi Tài lại hình phá với địa chi là gốc của Quan thì lại trở nên xấu. Hay Tài tinh sợ lộ, gặp vận thấu ở can thì xấu, vận Tài ở chi lại tốt. Ví dụ chương 16 có một bát tự gặp vận hình luật như sau Canh Tuất - Mậu Tý - Tân Mùi - Đinh Dậu

Nguyệt lệnh Thực Thương đại kỵ Ấn Kiêu vượng đoạt Thực, kỵ thần là Ấn Kiêu, dụng thần là Tài tinh, Thực Thương, vận Mão có Tài khắc Ấn tại sao lại xấu? Bởi vì bát tự có sẵn Tuất, Dậu khống chế Mão mộc, dụng thần bị chế, vốn là tốt mà trở nên xấu. Đại vận Nhâm Thìn, tuy Nhâm thông căn với Thìn khiến thủy khí tăng những không tốt bởi trụ giờ có Đinh hợp chế Nhâm thủy, Thìn xung Tuất, Tuất là mộ của hỏa, khiến hỏa hối ra, Đinh lại càng mạnh, hỏa mạnh sinh thổ càng tăng tính áp chế Thực Thương.

Đại vận xung can chi trong bát tự

Khi đại vận xung can chi nào đó trong bát tự, thì không chỉ có quan hệ xung phá nhau mà còn có xung động, xung khởi. Xung động không chỉ tương tự như yếu khắc mạnh, mà còn có thể giải phóng các chi bị hợp, ví dụ Mão hợp Tuất, gặp Dậu xung Mão, Tuất được giải phóng. Hay địa chi kết nhóm ẩn tàng trong tứ mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi nhờ tương xung mà lại thấu xuất được ra. Vì thế khi thấy chi vận xung với chi trong bát tự thì cần phải xem 1 số điều sau đây: + Chi bị xung là vượng hay suy, có được kết nhóm hay không? Nếu là chi vượng, có nhóm thì việc xung có thể là xung động chứ không phải xung phá, nếu ngũ hành chi vận và chi bị xung trong bát tự ngang nhau, hoặc chi vận được các can chi khác trong bát tự sinh trợ mạnh có thể thành xung phá, xấu cho chi đó.

  • Nếu chi trong bát tự bị xung phá thì phải xem là dụng thần hay kỵ thần, nếu là dụng thần ở các vị trí quan trọng như trụ tháng, hay là gốc chính cho can dụng thần thì có thể sớm gặp những điều xấu ngay trong vận ấy. Ví dụ Bill Clinton năm 2004, đại vận Nhâm Dần xung nguyệt lệnh dụng thần phải mổ tim.

Bát tự có thể minh họa cho phần 4.1, 4.2 và 4,3 là bát tự của diễn viên The Fast and the Furious, Paul Walker

Lấy thủy sinh mộc làm dụng thần, vận Kỷ Mùi, Mậu Ngọ không hung bởi Quý thủy có 3 can Tân kim thấu bảo vệ, kim tiết thổ sinh thủy, không những không nguy hại mà còn làm tốt cho sự nghiệp. Vận Đinh là Sát, vốn có sẵn Thực Thần Quý thủy nên Sát trở thành Thiên Quan, cát thần, sự nghiệp thành công rực rỡ. Vận Tỵ cũng là hành hỏa nhưng Tỵ Hợi tương xung, Tỵ Dậu Sửu hội thành kim cục quá mạnh, phản sinh thủy, xung phá mộc, năm Quý Tỵ, cuối vận Đinh Tỵ gặp tai nạn giao thông qua đời.

Đại vận điều hậu

Điều hậu là vấn đề cần quan tâm khi bát tự có thành phần chính là hỏa, táo thổ trong mùa hè, hay thủy trong mùa đông. Có vẻ đây là một lý thuyết được các nhà nghiên cứu cuối thời Minh hoặc đời Thanh đề xướng. Có thể coi nó là 1 trong các trường hợp tăng cường thêm tính động tĩnh của bát tự. Nếu bát tự quá nóng thì sức biến động không quá mạnh, cần gặp hành vận có thủy thì các quan hệ trong bát tự sẽ vận hành thuận lợi hơn, ngược lại bát tự có thủy nhiều trong mùa đông được coi là quá lạnh, cần gặp hỏa để vận hành tốt hơn. Việc có điều hậu hay không là 1 phần phụ trợ, không làm thay đổi cách cục tốt xấu trong bát tự. Bát tự mùa hè không có thủy hoặc mùa đông không có hỏa vẫn sẽ tốt nếu được cách cục tốt. Không có chuyện thiếu hành hỏa, hay thủy mà bát tự trở nên xấu.

Luận vận hàng năm

Về bản chất luận vận hàng năm - lưu niên cũng có cơ chế giống như luận đại vận. Một số lưu niên có can chi thiên khắc địa xung với 1 trụ nào đó, hoặc trùng cả can chi với trụ nào đó trong bát tự, hoặc lưu niên, đại vận trùng địa chi với trụ nào đó trong bát tự, có thể tạo nên những tác động mạnh hơn so với các địa chi khác. Nhưng chúng không quá mạnh cũng không làm thay đổi hoàn toàn cục diện. Vì trong đời ai cũng gặp những lưu niên kiểu đặc biệt này nhiều lần. Nhưng do một số thiên kiến nên khi có hạn xấu xảy ra thì nhiều người nghiên cứu thổi phồng ảnh hưởng của các lưu niên trên.

Điều quan trọng để luận hành vận chính là: tổng hợp các xu hướng hiện tại với xu hướng chi phối dài hạn hơn và ngắn hạn hơn. Ở đại vận, xu hướng hiện tại là đại vận, xu hướng dài hạn hơn là trụ vận, xu hướng ngắn hạn là lưu niên. Thì ở lưu niên, xu hướng hiện tại là lưu niên, xu hướng dài hạn là trụ vận, đại vận, xu hướng ngắn hạn là các tháng trong năm đó.

Chương 19 — Luận các lĩnh vực trong cuộc sống

Ở chương 2 chúng ta đã thấy thực tế rằng tất cả các thông tin phản ánh qua mệnh lý đều chỉ là những cơ hội, qua việc phân tích chúng ta có thể biết mệnh chủ có cơ hội cao được thành công, hạnh phúc hay không, nhưng vẫn phải phụ thuộc vào các yếu tố ngoại cảnh nữa.

Về lý thuyết, sau khi xác định được cách vận hành của bát tự, tìm được dụng thần, hỷ thần, kỵ thần thì việc luận các lĩnh vực như hôn nhân, sự nghiệp, con cái, sức khỏe không quá khó khăn.

Tổng quan về luận đoán lĩnh vực cụ thể

Chương 2 đã đề cập đến những yếu tố ảnh hưởng tới việc luận đoán vận mệnh của mỗi người, không chỉ có thông tin trong bát tự mà còn phải đặt xu hướng vận mệnh đã được phân tích trong những hoàn cảnh cụ thể nữa. Vì vậy khi luận các thông tin về những lĩnh vực như gia đình, hôn nhân, tiền tài, sự nghiệp, sức khỏe... ta chỉ có thể coi kết quả luận đoán thể hiện các cơ hội có thể xảy ra. Nếu ta có thêm các hiểu biết cụ thể về mệnh chủ thì sẽ tăng tỷ lệ đúng, chứ không có thông tin nào là chắc chắn sẽ chính xác cả. Có rất nhiều lý thuyết mang tính “tuyệt chiêu” nhưng được xây dựng trên một số nghiệm lý hạn chế, đúng với trường hợp này, nhưng không đúng với trường hợp khác, nên chúng ta cần xây dựng phương pháp luận linh hoạt thích ứng với nhiều ngoại cảnh. Quá trình phân tích thông tin về lĩnh vực nào đó trong bát tự bao gồm 3 bước chính: + Bước đầu tiên xác định can chi nào ứng với lĩnh vực đó. Tùy từng lĩnh vực, khi thì được xác định bằng thập thần, khi thì được xác định bằng vị trí các can chi, khi thì tổng hợp cả 2. Ví dụ xem hôn nhân thì đầu tiên xem chi ngày, sau đó là xem đến thần chủ hôn nhân của nam, nữ. Nhưng xem tiền tài thì ưu tiên xem Tài tinh, sau đó là xem chi tháng và trụ giờ...

  • Bước thứ hai là xét các thần đó, các cung đó là dụng thần hay kỵ thần, dụng thần được sinh trợ không, hay kỵ thần có chế khử không. Và tổng hợp thông tin của đối tượng thể hiện được xác định ở bước 1 và bước 2. + Bước thứ ba là khảo sát yếu tố ngoại cục có góp phần hỗ trợ hay công phá các đối tượng thể hiện không.

Luận tình duyên, hôn nhân

Các lá số có thông tin hôn nhân xấu thì có nguy cơ bất ổn về hôn nhân. Nhưng cần phải xét đến hoàn cảnh, điều kiện và văn hóa. Người sống ở thành thị sẽ khác nông thôn,

ở Đông Á sẽ khác Tây Âu. Văn hóa khác nhau dẫn đến tiêu chuẩn xác định hôn nhân tốt, xấu khác nhau. Nhưng chúng ta vẫn có thể thấy một số chỉ báo qua việc phân tích bát tự.

Thập thần thể hiện tình duyên, hôn nhân

Với nữ là Chính Quan và Thất Sát. Là các thần khắc nhật can. Với nam là Chính Tài và Thiên Tài. Là các thần bị nhật can khắc. Bởi trong quan hệ nam nữ thì nam giới là đối tượng chủ động, và thần đi khắc là thần có tính chủ động, thần bị khắc

có tính thụ động. Cơ chế này phù hợp với một số bản năng được di truyền trong giống nòi, cả về tâm lý và tình dục, không dễ bị tác động bởi các yếu tố xã hội thời đại.

Sự quan trọng của chi ngày

Nhưng sẽ là một sai lầm lớn nếu cho rằng bát tự không có các thần thể hiện hôn nhân thì cho thấy mệnh chủ không có hôn nhân. Việc một ngũ hành không xuất hiện là điều bình thường trong bát tự, và việc thiếu khuyết các thần hôn nhân cũng không ảnh hưởng quá nhiều tới quá trình luận hôn nhân. Dẫn chứng thực tế ở 1 số ví dụ sau:

Cùng bát tự này có 2 mệnh chủ. Donald Trump kết hôn nhiều lần, còn người có cùng thông số bát tự với ông ta mới kết hôn 1 lần, và chưa có thông tin nào cho thấy ông ấy đã ly dị.

Steve Jobs Tài tinh rất yếu ẩn tàng tại trụ giờ, hôn nhân vẫn có thể coi là ổn. Hay nam mệnh có bát tự dưới đây vẫn kết hôn, có vợ bình thường, không muốn nói là hiện tại vợ chồng có nhiều quan điểm chung phù hợp với nhau.

Chúng ta cần hiểu như sau: Một bát tự có thể không có thần thể hiện vợ, chồng, nhưng luôn có cung vợ chồng, và cung này quan trọng hơn cả các thập thần tương ứng. Và chi ngày chính là cung vợ chồng trong bát tự. Nếu chi ngày tốt, thì người đó có nhiều cơ hội có hôn nhân tốt, nếu chi ngày không tốt thì nhiều khả năng hôn nhân của người đó kém. Lưu ý là tất cả đều là các cơ hội và khả năng, còn tùy thuộc vào việc mệnh chủ có ngoại cảnh hỗ trợ không, và tố chất của người hôn phối thế nào.

Mệnh lý người hôn phối có ảnh hưởng không

nhỏ Ví dụ dưới đây là hai nữ mệnh sinh cùng giờ, ở hai tỉnh phía bắc khác nhau, họ kết hôn cùng 1 năm, 2 người chồng

đều có điều kiện kinh tế tốt, có thể là trụ cột kinh tế trong gia đình, nhưng một người hôn nhân rất xấu, một người hôn nhân vẫn tốt đẹp, bởi mệnh lý những người chồng có sự khác nhau lớn.

Bát tự nguyệt lệnh Thực Thương nhưng thấu Quan, Sát hỗn tạp, nên quý ở chỗ làm sao chế Sát để dụng được Sát. Nhật chủ có gốc, địa chi lại tàng Thực Thương, Kiếp Tài nhiều, Quan Sát tuy hỗn tạp nhưng Tài tinh hư phù, Nhâm Quý trong tháng Thìn cũng không được vượng khí, không sợ Quan Sát. Chi ngày Thìn thổ vừa tàng gốc Quan tinh, vừa tàng Thực Thần, tàng Ấn tinh nên có thể nói là vừa có cát vừa có hung, trong đó cát có phần nhỉnh hơn.

Một nữ mệnh kết hôn với người chồng bát tự hỏa thổ mạnh, chế Sát thái quá đến năm Mậu Tuất 2018, lưu niên xung phá cung chồng ly hôn. Một nữ mệnh kết hôn với người chồng bát tự kim, thủy, mộc đều ổn định, có thể vận dụng những điểm tốt của bát tự, nên hôn nhân tốt đẹp, vợ chồng chung chí hướng, tiền tài sung túc.

Những điều cần lưu ý khi luận hôn nhân

  • Nếu chi ngày là dụng thần, hoặc không rõ là dụng hay kỵ mà bị xung thì hôn nhân có nhiều nguy cơ xấu. Ví dụ nữ mệnh:

Nguyệt lệnh Tỷ Kiếp, Thực Thương sinh Tài làm dụng thần. Chi ngày là dụng thần bị chi tháng Dậu xung, 2017 ly hôn. + Chi ngày khắc là kỵ thần, lại khắc thần chủ hôn nhân thì nhiều khả năng xấu hôn nhân.

Nguyệt lệnh Tài tinh, thấu Sát, lấy Sát làm dụng thần, Sát cần có Thực Thương chế để trở thành Thiên Quan, tuy nhiên Thực Thương quá mạnh thì Sát lại bị tổn thương. Chi ngày Mùi thổ chứa hỏa thổ hỗ trợ các can Mậu Kỷ khắc Sát. + Nữ mệnh Thực Thương, Tỷ Kiếp quá mạnh, thì dù chi ngày là dụng, hỷ thần cũng vẫn có thể xấu hôn nhân.

Ví dụ nữ mệnh:

Bản tính mạnh mẽ, khó khăn trong việc tìm được ý trung nhân phù hợp. Nữ mệnh có Thực Thương vừa là kỵ thần vừa ở chi ngày thì rủi ro là rất cao. Ví dụ:

Thêm một số tổ hợp nguy cơ xấu về hôn nhân Nữ mệnh:

Chi ngày là kỵ thần.

Chi ngày gặp xung, gặp hại, Ngọ Tý xung, Mùi Tý hại, mệnh chồng hỏa thổ nặng. Năm Ngọ, Mùi xung đột mạnh, năm Đinh Dậu vận Canh Thìn ly hôn. + Nam mệnh, Tài quá vượng, Tài sinh Sát thì cũng có nguy cơ tan vỡ hôn nhân cao. (Xem thêm phần nguyệt lệnh Tài tinh)

Ví dụ:

Chi ngày tàng Sát, Tài rất vượng nhưng lộ, gặp vận Sát, ly hôn.

Một số tổ hợp hôn nhân tốt

  • Chi ngày và Tài tinh là dụng thần.

Bát tự Zidane, cựu cầu thủ - huấn luyện viên người Pháp. Nguyệt lệnh Thực Thương dụng thần Tài, Sát. Chi ngày là dụng thần được chi giờ tương sinh.

Sir Alex Ferguson tòng cường cách, dụng thần kim thủy, chi ngày là Sửu thổ là tàng kim, thủy lại là Quan tinh nhược, rất tốt cho mệnh cục (Xem thêm chương Tòng cách). Nữ hoàng Anh Elizabeth II và chồng:

Nguyệt lệnh Ấn Kiêu, lấy Quan, Ấn làm dụng thần, Quan Sát hỗn tạp lại có thực chế, chi ngày là Ấn, lại tàng Thực. Chồng bà, nguyệt lệnh Thương Quan, lấy Tài sinh Quan làm dụng thần, chi ngày là Tài tinh.

Luận sự nghiệp

Luận sự nghiệp nói chung cần xem cách cục nguyệt lệnh có tốt hay không, bởi nguyệt lệnh có vai trò đề cương đại diện cho sự phù hợp của bát tự với xã hội. Giống như 1 người có năng lực thì sớm muộn cũng tìm được cơ hội để thuận lợi. Nhưng thành công đến mức độ nào thì còn phải tùy vào nhiều yếu tố khác nữa. Tôi từng đọc trong 1 sách có nội dung đại loại như sau: “ngoại trừ những người sinh cùng giờ, thì những người có cách cục trong lá số giống nhau sẽ làm công việc giống nhau”. Bạn có tin có 1 thợ xây 1 ngôi nhà thì không nổi, nhưng lại có thể xây tốt 100 ngôi nhà? Không có lá số nào chỉ ra rằng mệnh chủ sẽ làm nghề nào, xem lá số chỉ cho thấy mệnh chủ có những tố chất phù hợp với công việc nào, còn việc mệnh chủ có điều kiện tham gia được đúng công việc của mình hay không thì lại là do yếu tố ngoại cảnh của mệnh chủ. Một người có tố chất nghiên cứu vũ trụ nhưng nếu cả đời không được đào tạo thì tố chất đó là vô dụng. Anh hùng muốn làm nên thời thế thì bắt buộc phải có thời thế tạo cơ hội.

Nên khi bát tự tốt, đại vận tốt thì ít khả năng người đó có một sự nghiệp thất bại, tuy nhiên muốn đạt đến đỉnh cao thực sự thì cần phải có ngoại cảnh hội tụ làm những nghề nghiệp, ở những môi trường phù hợp với mệnh lý. Một số tính chất công việc phù hợp với dụng thần như sau:

Bất kỳ bát tự nào cũng có thể làm một công việc nào đó với cách thức thực hiện khác nhau. Mệnh tốt, gặp vận xấu thì chỉ là khó khăn tạm thời, nhưng cần tránh lựa chọn những công việc không phù hợp với mệnh. Khi Tài tinh, Thất Sát là kỵ thần hoặc dụng thần bị phá thì không nên làm kinh doanh. Khi Quan tinh, Ấn tinh bị phá thì không nên liều lĩnh với pháp luật. Đã có không ít mệnh lý thành công được nhắc đến ở các phần cách cục nên dưới đây đưa ra một số mệnh lý không tốt như sau:

  • Nam mệnh tòng Tài cách mà Tỷ Kiếp mạnh, làm thuê thì tốt mà làm chủ thì phá sản như sau:

Vận Canh từ 1993 - 1998 thuận lợi, tự mở công ty riêng, nhưng vận Thìn tàng Tỷ Kiếp, là gốc của Giáp mộc, từ năm Canh Dần đã bắt đầu phá tài, vài năm sau không thể kháng cự nổi. + Nam mệnh kinh doanh thành công, mà sự nghiệp chính trị thất bại.

Bát tự Tài sinh Sát vốn có thể lấy Sát làm dụng thần, nhưng chi ngày, chi giờ bán hợp mộc, thành ra chế Sát quá đà, ngược chiều, vận Thân, Dậu kim thủy tốt đẹp. Vận Giáp Tuất, Ất Hợi thất bại nặng nề.

Luận con cái

Các can chi đóng ở trụ giờ và là thần Thực Thương đều là cơ sở quan trọng để nhận định cơ hội có con cái có thuận lợi hay không. Nhưng yếu tố quan trọng còn nằm ở tính di truyền, những yếu tố không hoàn toàn thể hiện trong bát tự. Thực Thương là thần được Nhật chủ sinh cho nên là tượng con cái. Nhưng ở nam giới, thì nếu trụ giờ liên đới với Quan, Sát thì cũng là tượng con cái. Bởi trụ giờ là hậu vận, là cung con cái, nam lấy Tài tinh làm vợ, Tài sinh Quan Sát, cũng như trong truyện tiếu lâm có câu: “con mình do vợ đẻ ra vậy”. Thất Sát là cung con thì cũng cần chế hóa thì tốt, không thì có thể xấu. Ví dụ nam mệnh dưới đây:

Nam mệnh Quan Sát hỗn tạp, trụ giờ tuy là Thương Quan nhưng Thực Thương lại không thấu, lại là gốc của Quan Sát, nên lấy Quan Sát chứ không lấy Thực Thương. Mệnh chủ không có con cái, nhận con nuôi.

Hay một bát tự cũng tương tự:

Tài Sát quá mạnh, Thực Thương bị chế hóa, nên con cái cũng không thuận lợi. Nữ mệnh Thực Thương là kỵ thần lại ở cung giờ thì cũng thường vất vả về con cái, ví dụ các nữ mệnh trụ năm Kỷ Tỵ, Mậu Thìn đã nhắc tới ở phần hôn nhân. Nữ giới Chính Quan ở trụ giờ bị khắc chế, hoặc là Tài Quan kỵ thần cũng là thông tin báo hiệu nguy cơ bệnh tật ở tử cung ảnh hưởng tới hôn nhân. Ví dụ:

Tân sinh tháng Sửu là nguyệt lệnh Ấn Kiêu, lấy Thiên Ấn làm dụng thần, Thực Thương, Tài mạnh khắc Ấn, nên chi giờ là Dần mộc là kỵ thần, mộc được thủy sinh nhiều. Tháng Sửu cuối năm sắp sang tháng Dần nên mộc cũng không quá non yếu, là kỵ thần khó chế khử. Bị bệnh ung thư, phải cắt bỏ buồng trứng, khó có con.

Luận việc không may để phòng tránh

Để có thể luận việc không may thì chúng ta cần lưu ý đến kỵ thần. Nhưng còn tùy thuộc vào môi trường của người luận giải. Ở một góc độ nào đó, có vẻ như câu “của đi thay người” có dấu hiệu đúng liên quan đến yếu tố vận hạn xấu. Hạn xấu có thể nó diễn ra theo những cách thức khác nhau phụ thuộc vào đặc thù riêng cuộc sống của mỗi mệnh chủ, mà bằng phương pháp luận mệnh ta có thể hình dung được các nguy cơ rủi ro dù không chắc chắn diễn biến cụ thể. Ví dụ: Hai mệnh chủ cùng sinh một giờ như sau:

Bát tự Tài lộ, đều có gia cảnh không thuận lợi về kinh tế, thuở nhỏ vận Quý Dậu, mệnh chủ 1 sức khỏe không tốt, Mệnh chủ 2 sống nghèo khó hơn. Năm Ất Mùi 2015, Mệnh chủ 1 gặp tai nạn xe cộ, Mệnh chủ 2 mất tiền. + Khi Tài tinh là kỵ thần gặp vận Tài, hoặc Tài tinh là dụng thần gặp vận phá tài, hoặc Tài sinh Sát vượng - là những dấu hiệu cho thấy nguy cơ xấu về thân thể, tiền bạc. Bởi vì Tài được coi là nguồn dưỡng mệnh, đại diện cho thân thể, sự di chuyển của bản thân. Ví dụ nam mệnh sau gặp tai nạn trong đại vận Ất Sửu, năm Đinh Sửu.

Hay nam mệnh:

Mệnh này không chỉ sợ mộc khắc thổ mà còn sợ Tuất xung Thìn. Năm Giáp Tuất, vận Ngọ, Dần Ngọ Tuất tam hợp khởi Tuất xung Thìn, Giáp lưu niên kích động 3 Giáp mộc trong mệnh. Gặp tai nạn tử vong. Thông tin tổ hợp bát tự sau được 1 bạn trên facebook cung cấp, xin đưa lên để các bạn tham khảo. Có ba mệnh chủ cùng sinh 1 giờ như sau:

Bát tự thủy mộc vượng, hỏa thổ tuy có nhưng xa cách, không thể kết hợp lại làm đối trọng với mộc hỏa. Thành ra để tòng thì hơi vượng, mà để làm cách cục thông thường lại hơi nhược. Dụng thần là Ấn kiếp thủy mộc, kỵ thần là Tài tinh, Quan Sát thì có khi là hỷ có khi là kỵ. Mệnh chủ 1: hình tướng thiên về hành kim, hàm rộng, gai góc, cốt lộ gặp hạn hình pháp năm Kỷ Sửu vận Dậu. Năm Tài vận Sát. Mệnh chủ 2: hình tướng thiên về hành thủy, cùng năm đó bị tai nạn giao thông. Mệnh chủ 3: không gặp vấn đề gì. Đến cuối năm Kỷ Hợi đầu năm Canh Tý thì bị tai nạn giao thông. 3 mệnh chủ trên cho thấy, đều là mệnh cục có điểm không thuận lợi, nhưng cụ thể vận hạn diễn ra khác nhau, chúng ta cần có nhiều nghiên cứu hơn để làm rõ vấn đề này trong tương lai.

Chương 20 — Tính cách qua bát tự

Thế giới nội tâm của con người rất phức tạp, chúng ta luôn có những phần tính cách cố định và một số phần tính cách dao động, nay thế này mai lại thế kia. Chúng ta không thể chỉ xét đoán vội vàng, chủ quan mà phải nhìn nhận ở nhiều góc độ, ở các thứ tầng khác nhau trong nội tâm. Khách quan mà nói, thì khía cạnh tính cách, nội tâm chưa được các nhà phát triển Tử Bình quan tâm nhiều, tuy nhiên với hệ thống gồm các thành phần âm dương ngũ hành tương tác kết hợp, Bát tự Tử Bình có tiềm năng để phát triển thành một công cụ phân tích tính cách phù hợp với tâm lý học. Dựa trên kết quả các khảo sát tâm lý do cá nhân tôi thực hiện, tôi cho rằng có thể xây dựng quy trình luận tính cách dựa trên việc phân tích 3 yếu tố sau:

Các vị trí can chi cần chú ý

Thập thần và 4 khí chất

Và phải thừa nhận rằng, trước sự phức tạp của tâm tính con người, thì dù rất cố gắng cũng chỉ có thể nhìn nhận được một phần nào đó, nhưng có thể giúp chúng ta nhìn nhận bản thân mình hay người khác rõ hơn và góp phần thúc đẩy quá trình tự hoàn thiện.

Giải thích một số khái niệm được sử dụng

Âm dương

Âm dương giống như phạm trù triết học về các mặt mâu thuẫn và thống nhất. Là các phạm trù triết học thể hiện các tính chất của vạn vật, cũng như trong tất cả các hệ thống. Trong 1 cặp mâu thuẫn và thống nhất đó thì mặt nào có tính động lớn hơn, có tính chủ động hơn được coi là có tính dương, mặt còn lại có tính âm. Người thiên về dương tính thì hầu hết các tình huống thể hiện như thanh niên, tuổi trẻ, mang khí chất hăng hái, tự tin, sôi nổi, hoạt bát, lạc quan, ít nỗi lo sợ, tích cực tương tác và năng động, hướng đến những điều mới mẻ, còn người thiên về âm tính thì có thiên hướng già dặn, mang khí chất điềm tĩnh, suy tư, bình tĩnh, thận trọng, thế giới quan sâu sắc. Người dương tính cao thì nhược điểm có thể là vội vã, thiếu lý luận, tính toán sâu xa, người âm tính cao thì có thể mang nhược điểm là nhút nhát, thụ động. Hầu hết chúng ta ở trạng thái âm dương tương đối cân bằng với một thiên hướng nào đó rõ ràng hơn một chút. Nhưng những phần âm dương kết hợp phức tạp có thể trở nên rối loạn, dẫn đến người thiên về âm, hay thiên về dương có thể mang những bệnh lý tâm thần khác nhau ở các mức

độ nặng nhẹ, dẫn đến những quyết định, lựa chọn sai lầm trong cuộc sống. Người rối loạn mang tính dương: nóng nảy, vội vã, hành động bất chấp hậu quả xấu; người rối loạn mang tính âm: lo lắng, ưu sầu, bi quan, trầm cảm; cũng có những người có thể rối loạn cả âm, dương mang tất cả các điểm tiêu cực trên. Các hành mộc, hỏa, táo thổ thiên về tính dương. Các hành kim, thủy, thấp thổ thiên về tính âm. Bát tự có nhiều can chi thuộc các hành thiên về dương thì cần điều chỉnh tăng tính dương một chút trong tính toán.

Âm dương và bốn khí chất

Tâm lý học có lý thuyết về 4 nhóm khí chất, đó là lý thuyết khởi nguồn từ hơn 300 năm trước Công Nguyên do nhà triết học Hippocrates đề xướng và được rất nhiều nhà nghiên cứu tâm lý về sau phát triển, tôi sử dụng tính chất liên quan tới 4 nhóm khí chất này như thước đo trong một số trường hợp để người học có thể hiểu dễ dàng hơn về tính chất các thành phần trong bát tự. Bốn nhóm khí chất có thể tương ứng với các tình trạng âm dương như sau: Khí chất hoạt bát - dương đang tăng trưởng. Khí chất chủ động (sôi nổi) - dương khí mạnh mẽ Khí chất điềm đạm - dương bắt đầu suy yếu, âm đang tăng trưởng Khí chất ưu tư - dương đã rất yếu, âm khí tăng trưởng

Khí chất hoạt bát: Người mang khí chất này thường là những người có thiên hướng sống theo cảm xúc, có nhu cầu được kích thích thần kinh mạnh, nên tâm trạng thường bị đẩy giữa các thái cực hưng phấn cao và ức chế. Họ thường là những người nhanh nhẹn, hoạt bát, vui vẻ, dễ gần, phong thái trẻ trung, nhí nhảnh. Khí chất sôi nổi: Người mang khí chất này có ý chí và cảm xúc đều mạnh mẽ, tư tưởng hãnh tiến, khả năng làm việc và hoạt động với cường độ cao, phạm vi rộng, ứng biến đa dạng với các điều kiện phức tạp. Khí chất điềm tĩnh: ngoài mềm trong cứng. Người mang khí chất này thường cân bằng cảm xúc và ý chí. Họ thường là những người điềm tĩnh, cố tỏ ra có sự kiểm soát cao cho dù nội tâm có những kích thích mạnh mẽ, nên họ thường là người ngoan cường, cứng cỏi, kiên nhẫn theo đuổi các mục tiêu. Có khả năng phân tích sâu sắc vấn đề. Khí chất ưu tư: Những người mang khí chất này có khả năng cảm nhận sâu sắc, nhưng lại bất ổn trước các kích thích từ môi trường. Nhạy cảm, có thế giới quan đặc biệt so với các nhóm khác, khả năng nhìn nhận đa chiều hướng. Sợ rủi ro, nên thường nhìn nhận thiên về hướng bi quan, thích những thứ chắc chắn, có đảm bảo, không thích những thứ có nhiều nguy cơ, ồn ào, phức tạp khó kiểm soát.

Âm dương và sự tự tin

Khi nói về con người thì mức độ tự tin là rất quan trọng. Trong mỗi người thì luôn có sự tự tin, khác nhau ở mức cao hay thấp. Người dương tính cao tự tin cao, người âm tính cao thường thiếu tự tin. Người có mệnh lý tốt thì cân bằng

cảm xúc tốt, thường giữ được sự tự tin ở mức cao, không để chúng quá cao, chứ không phải là mức cân bằng giữa tự tin và mất tự tin. Người mệnh lý bất ổn thường mất tự tin nhanh chóng, hoặc thể hiện tự tin cao quá mức. Người tự tin: Dám nói lên suy nghĩ của mình. Làm những điều mình cho là đúng. Không cho rằng mình kém cỏi, sẵn sàng thử nghiệm, khi làm sai hay gặp thất bại sẽ cố gắng làm lại tốt hơn. Tự hào về giá trị bản thân và sẵn sàng thể hiện khi cần. Không quá cả nể, sẵn sàng nói không khi thấy không phù hợp, không dễ dàng thuận theo ý kiến của người khác. Bình tĩnh lắng nghe kể cả khen ngợi cũng như chỉ trích. Không quan tâm quá nhiều đến lời chỉ trích. Từ chối so sánh với người khác nếu mình ở thế kém cỏi, ít khi phán xét người khác. Người tự ti: Không dám nói lên suy nghĩ của mình. Ngại thử nghiệm, không dám hành động vì sợ sai. Thường cho rằng mình kém cỏi, khi làm sai hay nghĩ đến việc bỏ cuộc, lảng tránh. Mặc cảm về nhược điểm của bản thân và không dám thể hiện trước người khác. Cả nể, đôi khi nhận lời dù biết là không phù hợp, hoặc lẩn tránh, khó khăn trong việc từ chối người khác. Bối rối khi được khen ngợi, sợ hãi khi bị chỉ trích. Ám ảnh sợ hãi bị người khác chỉ trích. Tự so sánh với người khác và thấy mình trở nên kém cỏi, dễ phán xét chê bai người khác.

Thái độ với tham vọng

Chúng ta tránh nhầm lẫn giữa thói quen sử dụng từ ngữ và ý nghĩa từ ngữ được dùng để miêu tả. Khi nói một người không có tham vọng, không có nghĩa người đó hoàn

toàn không có tham vọng mà là thái độ thiếu nhiệt tình với tham vọng. Tham vọng cũng không phải chỉ nói đến mong muốn leo cao trong cơ quan, tổ chức, hay nắm giữ quyền lực, tham vọng là ý muốn mạnh mẽ của một người với thứ họ muốn, kể cả khi điều đó vượt quá khả năng của mình. Tham vọng chính là động lực để tạo ra mục tiêu thực hiện kế hoạch nào đó. Người có tham vọng cao sẽ đặt những mục tiêu rõ ràng, không khoe khoang quá nhiều về những mục tiêu đó mà tập trung trí lực, cảm xúc để thực hiện, sẵn sàng chấp nhận rủi ro khi thất bại và tiếp tục tìm cách thực thi. Không quan tâm nhiều đến việc ganh đua với người khác, thậm chí ở gần những người tài giỏi để học hỏi họ.

Khí chất của thập thần

Mỗi thần trong các cách cục tốt xấu và vai trò trong cách cục sẽ thể hiện khác nhau. Thần ảnh hưởng xấu sẽ thể hiện những điểm xấu, thần ảnh hướng tốt sẽ thể hiện điểm tốt. Thần xấu trong cách cục tốt thì ít xấu, thần xấu trong cách cục xấu thì rất xấu. Khi chúng ta nói người này có tính hoạt bát hay không, về bản chất là chúng ta đang đánh giá rằng họ có tính hoạt bát cao hay thấp. Với thập thần cũng vậy, mỗi thập thần có những phẩm chất riêng, mà ta đánh giá chỉ số các tố chất trong đó là cao hay thấp, từ đó hình dung ra được đặc trưng riêng của thập thần. Bảng chỉ số và các mô tả dưới đây được xây dựng để giúp người học dễ hình dung hơn về thập thần, các thông tin chỉ là tương đối đúng với thực tế, bởi chúng còn phụ thuộc vào sự kết hợp của thần đó với các thần khác

khiến ta nhận thấy ở mệnh chủ có những đặc trưng riêng, có thể gần đúng, hoặc không hoàn toàn giống với thập thần chủ đạo. Phần nhược điểm thì còn tùy thuộc vào thần phá hoại cách cục mà có những thể hiện khác nhau, người học cần linh hoạt vận dụng. Nam và nữ có những đặc điểm riêng khác nhau, cũng là một điều cần lưu ý.

Thực Thương

Thực Thần, Thương Quan là những thần có ngũ hành được Nhật chủ sinh, giống như những đứa trẻ, Thực Thương có khí chất hoạt bát, trẻ trung, nhí nhảnh, trí tưởng tượng vô cùng phong phú, tuy nhiên ổn định cảm xúc kém, nhanh vui nhanh buồn, nhưng khi mệnh lý không tốt, chuyển hóa yếu thì buồn nhiều hơn vui. Thực Thương là kỵ thần phá Quan giống như đứa trẻ nghịch ngợm, mải chơi, không nghe lời có thể gây những thiệt hại nghiêm trọng. Người ảnh hưởng bởi Thực Thương thường xuyên đi giữa thái cực của sự hưng phấn và ức chế. Vì thế Thực Thương

cần Ấn Kiêu vừa đủ để tăng cường tư duy sâu sắc, cung cấp sự điềm tĩnh và kiên quyết bổ trợ cho những thiếu sót khi sự hưng phấn chi phối. Thực Thương cũng cần sự thực tế của Tài Tinh để không trở nên bay bổng quá đà, chuyển hóa trí tưởng tượng phong phú Khí chất cơ bản: Cảm xúc chi phối mạnh, tương đối nhạy cảm, phối hợp giữa khí chất linh hoạt và ưu tư. Với mệnh chuyển hóa mạnh trở nên linh hoạt, hoạt bát, tự tin cao. Có thể trở nên ưu tư, tự tin thấp với mệnh bị ức chế. Coi trọng cảm xúc bản thân, có thể thổi phồng thành tựu cá nhân, kiêu ngạo. Với mệnh lý rối loạn có thể chống đối kỷ cương, muốn thay đổi thực tại quá mức. Phóng khoáng, khó tiết kiệm nếu mệnh lý không có Tài, Quan, Sát, Ấn phối hợp hài hòa. Thái độ trước tham vọng, động lực: Không quá cao, họ thường cảm nhận mạnh mẽ các ham muốn, với mệnh chuyển hóa mạnh thì quá trình hưng phấn dài hơn nhưng khả năng chịu áp lực không cao, với mệnh chuyển hóa kém thì hưng phấn không kéo dài và chịu áp lực kém nên dễ buông xuôi. Khi có đạt được hưng phấn cao thì trở nên ứng biến nhanh, nhiều giải pháp cho dù nhiều khi là những giải pháp không triệt để, khi năng lượng thấp thì hời hợt, tính ngắn, tủn mủn. Khả năng tập trung: Không quá mạnh, dễ bị chi phối bởi môi trường, điều kiện ngoại cảnh, làm việc bằng động lực từ sự hưng phấn chứ không hẳn là sự tập trung. Phản ứng trước tình cảm: Có những xúc cảm mạnh mẽ, nhạy cảm, dễ xúc động, hay ức chế, tuy nhiên họ thường

nghĩ đến sự thay đổi. Nếu cung hôn nhân không bền vững thì có nguy cơ ngoại tình, bất ổn trong hôn nhân, nhưng nếu cung hôn nhân tốt thì họ lại là đối tác tốt vì tình cảm là một phần rất quan trọng trong đời sống của họ. Người chuyển không mạnh thì rất khó khăn để vượt qua mát mất trong mối quan hệ. Thái độ trong giao tiếp: Thân thiện, hòa đồng, lôi cuốn. Trong tình trạng chuyển hóa tốt thì trở nên hài hước, nhiều năng lượng, hứng thú trước đám đông, duy trì sự cuốn hút được lâu dài, trong tình trạng chuyển hóa kém trở nên nhanh chóng mất năng lượng và mệt mỏi. Thái độ trước công việc: Ảnh hưởng mạnh bởi cảm xúc, khi cảm xúc lên cao thì nhiệt tình hăng hái, với công việc không tạo cảm xúc tích cực thì chán nản, lười biếng, trốn tránh.

Tài tinh

Tài tinh là thần chủ về khả năng quản lý tài sản. Nếu Thực Thương đại diện cho sự đam mê tuổi trẻ thì Tài tinh là con người ở giai đoạn bắt đầu lao động tích lũy, bắt đầu học cách cân bằng cảm xúc, khí chất cơ bản là pha trộn giữa

linh hoạt và sự hăng hái, tính linh hoạt cao, và tính hăng hái cũng tương đối cao. Với mệnh lý tốt thì tính linh hoạt cao, nhạy bén với thời cuộc, nhiều sáng kiến giải pháp, với mệnh lý kém hơn thì tính linh hoạt thấp, thiên về chăm chỉ cần mẫn, cẩn thận, còn với mệnh lý rối loạn thì quá nhiều tham vọng không kiểm soát được, có thể trở nên liều lĩnh, và hành vi mạo hiểm, nguy hiểm. Tài tinh thái quá hoặc khắc Ấn Kiêu thì có thể gặp vấn đề không tốt liên quan đến qua hệ với cha mẹ. Khí chất cơ bản: Linh hoạt, ứng biến tương đối nhanh, cảm xúc chi phối vừa phải, có sự nhạy cảm, nhưng không quá cao, cảm nhận tương đối mạnh các ham muốn và cố gắng biến các mong muốn thành động lực. Đa phần là những người khiêm tốn, biết mình biết ta, tự tin, nhưng không thể hiện sự tự tin quá nhiều. Tháo vát, nhiệt tình, hăng hái cũng như có nhiều giải pháp trong công việc và cuộc sống. Hăng hái với các kế hoạch công việc và hoạt động xã hội. Luôn muốn dĩ hòa vi quý cân bằng các mối quan hệ. Cân đối tài chính, biết tiết kiệm, dự phòng. Thái độ trước tham vọng, động lực: Có tham vọng, Tài tinh mạnh và ổn định thì tham vọng cao, sự tập trung tương đối cao, nếu có Quan Sát phối hợp thì có sự tập trung rất cao. Thông thường thì Tài tinh có định hướng rõ ràng trong cuộc sống, chăm chỉ, khả năng tập trung cao, năng động, thích ứng tốt, nhưng không quá giỏi trong việc chịu áp lực. Tài tinh rối loạn thì có thể tham vọng vượt khả năng của mình chỉ thay đổi khi có nhiều mất mát. Khả năng tập trung: Khả năng tập trung tốt. Cẩn thận, trách nhiệm.

Phản ứng trước tình cảm: Đam mê, cảm xúc mạnh mẽ nhưng không quá hưng phấn, đẩy cảm xúc mạnh. Nói chung họ là những người lãng mạn, nhiệt tình trong tình cảm, nhạy cảm nhưng không đa cảm. Không quá thực dụng, nhưng không mù quáng. Còn tùy thuộc vào cung hôn nhân mà họ có thể chung thủy hay không. Thái độ trong giao tiếp: Giao tiếp tích cực, thân thiện hòa động, cởi mở, lạc quan, dễ chịu, nói chuyện cuốn hút nhưng không quá nhiều, không thể hiện bản thân quá đà, cân bằng với các đối tượng. Giọng nói vừa phải, tốc độ có thể hơi nhanh một chút. Quan tâm đến các nhu cầu của người khác. Thái độ trước công việc: Nghiêm túc, chăm chỉ, tập trung, linh hoạt, mệnh càng tốt thì tính linh hoạt càng cao, khả năng ứng biến càng cao. Mệnh rối loạn thì quá linh hoạt đi kèm các giải pháp không triệt để.

Tỷ Kiếp

Tỷ Kiếp giống như một thanh niên, sôi nổi, hăng hái, hoạt bát nhiều năng lượng, ý chí chiến đấu cao, có thể trở nên mạo hiểm. Tỷ Kiếp vốn là thần chủ sự tranh đoạt, rất

tự tin, nhu cầu khẳng định bản thân lớn, nhiều ham muốn mạnh mẽ. Tỷ Kiếp âm và dương: Tỷ Kiếp hành mộc, hỏa, táo thổ thì có tính thể hiện bản thân lớn hơn, hành kim, thủy, thấp thổ có tính thể hiện bản thân điềm đạm, có phần giống Ấn Kiêu hơn, tuy nhiên ẩn sâu trong lòng họ vẫn là tham vọng tranh đoạt âm thầm. Trong cách cục tốt, Tỷ Kiếp sẽ có khả năng điều chỉnh bản thân giữ cảm xúc hăng hái đủ mạnh không quá mất cân bằng, trong cách cục không tốt Tỷ Kiếp có thể trở nên nóng nảy, cứng nhắc, cạnh tranh quá cao có thể dẫn đến mất đoàn kết, Tỷ Kiếp có nhiều năng lượng nên cũng có nhu cầu được kích thích tâm lý, tàng ẩn khả năng tham gia những việc mạo hiểm. Vì thế Tỷ Kiếp cần phối hợp với các thần khác để điều hòa cho hợp lý, trong cách cục tòng cường thì cần có sự điềm tĩnh của Ấn Kiêu để điều hòa, Tỷ Kiếp cùng Ấn Kiêu có thể tạo nên sự phối hợp vừa nhiệt huyết vừa lãng mạn, vừa có những suy nghĩ sâu sắc. Tỷ Kiếp cũng cần Quan, Sát vừa phải để định hướng, với cách cục thông thường thì cần Quan, Sát đủ mạnh để kiềm chế, hoặc Thực Thương Tài tinh vừa phải để tăng thêm tính linh hoạt, lãng mạn. Kỵ nhất là Tài tinh yếu, Tỷ Kiếp phá Tài, hoặc Quan Sát yếu trở nên tâm tư rối loạn. Khí chất cơ bản: Hăng hái, hoạt bát, tự tin, sôi nổi, nhiệt tình, tích cực, suy nghĩ nhanh, có khả năng tập trung cao độ, có tính cạnh tranh cao, và cái tôi lớn, đôi khi có thể tỏ ra khó chịu, thiếu sự cảm thông với người khác. Khẩn trương, gấp gáp, thích các hoạt động nhanh, có thể trở nên hấp tấp, vội vàng, rất tự tin vào bản thân, tỏ ra nôn nóng,

sốt ruột trước các sự việc diễn ra chậm rãi, lề mề. Có hứng thú và mối quan tâm rộng, tích cực tìm hiểu nhiều lĩnh vực trong cuộc sống, như làm đẹp, cải thiện môi trường sống, đồ chơi công nghệ, chăm sóc nhà cửa, xe cộ, đời sống văn hóa. Có dũng khí để làm những việc người khác cho là khó khăn, hứng thú cao hơn bình thường với những việc mạo hiểm. Với cách cục rối loạn thì trở nên quá nôn nóng thể hiện mình, thậm chí hung hăng, bạo lực, thường xuyên tranh đoạt với người khác. Thái độ trước tham vọng, động lực: Có động lực mạnh mẽ thực hiện các kế hoạch, hoài bão lớn, nhưng mức độ tập trung không quá sâu, vì có phần nào đó trong họ nôn nóng vội vàng, nên cần Quan, Sát ở mức độ phù hợp định hướng. Khả năng tập trung: Mức độ tập trung rất cao nhưng không duy trì quá lâu. Phản ứng trước tình cảm: Cảm xúc chi phối tương đối mạnh. Nhiệt tình, đam mê, rực cháy, nhưng có thể trở nên nhanh nguội. Không quá lệ thuộc vào đối phương. Nếu cung hôn nhân không tốt dễ ngoại tình, hoặc đổ vỡ. Thái độ trong giao tiếp: Cởi mở, thẳng thắn, tích cực trong giao tiếp. Trực tiếp đi vào vấn đề. Hướng ngoại, sôi nổi, tích cực trao đổi. Đôi khi gay gắt khi gặp quan điểm trái ngược, hơi hiếu thắng. Quan tâm đến người thân, có nhu cầu lớn trong việc kết giao, chia sẻ cảm xúc, thích mở rộng các mối quan hệ. Thái độ trước công việc: Độ tập trung cao. Tích cực, chủ động với mọi nhiệm vụ. Luôn có nhiều động lực hoàn thành các kế hoạch. Chăm chỉ, có nhiều năng lượng. Phù

hợp với các công việc có tính khai phá, tiên phong, liên quan đến quản lý, lãnh đạo.

Thất Sát

Thất Sát là thần rất phức tạp, tùy theo tổ hợp mà nó có thể là cát thần, hay hung thần khác biệt rất lớn. Có thể nói tâm tư Thất Sát có sự biến đổi phức tạp nhất trong số thập thần ngoài lạnh trong nóng. Nhìn chung là Thất Sát là một thần tự tin, có tư duy sâu sắc kèm trí tưởng tượng mạnh, sáng tạo, nhiều sáng kiến, dám nghĩ dám làm, bề ngoài có tính không quá cởi mở kén chọn trong bộc lộ cảm xúc, ưa hành động, dám làm việc lớn, kể cả những việc có tính phiêu lưu, mạo hiểm, thích đi xa, thích khám phá thế giới lạ. Khi được chế hóa phù hợp và đi cùng Tài tinh hoặc tàng ẩn Tài tinh, sẽ làm tăng tính sôi nổi, linh hoạt, kiên quyết, nhiệt tình, tự tin, lại có dí dỏm, ngầm có sức lôi cuốn. Với nữ giới Thất Sát có phần bộc lộ tính mạnh mẽ hơn, bề ngoài có thể hơi lạnh nhưng bên trong tàng ẩn khí chất mạnh mẽ và những tình cảm rất sôi nổi. Khi bị chế hóa quá mức hoặc Quan Sát hỗn tạp, hoặc Sát mạnh không gặp Tài sinh sẽ tăng tính trì trệ. Đôi khi tư duy sâu cùng trí tưởng tượng có tác dụng phụ khiến họ đôi lúc có những suy nghĩ lo lắng

sâu thẳm, ám ảnh về những nỗi sợ kinh khủng, hoặc có nhu cầu làm những việc mạo hiểm thoả mãn sự kích thích tâm lý, hoặc tìm đến thế giới tâm linh, tôn giáo để xoa dịu nỗi sợ của mình. Khi Sát quá mạnh được sinh, hoặc hình thức khác làm rối loạn cách cục thì lại trở lên liều lĩnh, mạo hiểm. Hoặc có cả 3 yếu tố có thể cùng tồn tại trong một con người. Khí chất cơ bản: Bề ngoài không quá cởi mở, thậm chí có thể tỏ ra hơi lạnh lùng, nhưng không phải là người chậm rãi, cách nói lưu loát, lý trí mạnh, tư duy sâu sắc, cùng trí tưởng tượng cao, khả năng sáng tạo cao. Nội tâm lại nhiệt tình, hăng hái, luôn cố giữ ổn định cảm xúc, không để cảm xúc bột phát, để giữ tâm trí tập trung hướng theo mục tiêu một cách kiên định. Tham gia nhiệt tình vào nhiều hoạt động văn hóa, xã hội như rèn luyện bản thân, từ thiện, cải tạo môi trường xung quanh, chăm sóc người và vật nuôi. Khi bất ổn thì giọng nói chậm, tác phong chậm chạp, lười biếng, độ dễ chịu thấp, khó tính. Thi thoảng có những đòi hỏi kích thích mạnh về tâm lý khiến họ muốn lựa chọn những việc mang tính phi thường, mạo hiểm. Thái độ trước tham vọng, động lực: Nhìn chung họ không quá thụ động, khi xác định được mục tiêu đều kiên trì theo đuổi. Với nhóm linh hoạt thì là người có tham vọng cao, cố gắng đạt thành tựu, có được vị trí quan trọng, có sức ảnh hưởng lớn trong gia đình, xã hội, không ngại khó khăn, trở ngại, dễ vượt qua thất bại, kiên trì theo đuổi mục tiêu. Với nhóm trì trệ thì không quá tham vọng, thích theo đuổi khám phá những điều mang tính văn hóa, tri thức, nghệ thuật. Khả năng tập trung: Khả năng tập trung cao khác thường và duy trì lâu trước các kế hoạch hứng thú. Với các

sự việc thông thường thì không quá khác biệt với người xung quanh. Phản ứng trước tình cảm: Khá quan tâm đến tình cảm, khi yêu cảm xúc mạnh mẽ, say đắm. Có thể trở nên lãng mạn và quá lý tưởng, thường xuyên để tình yêu lấn át ý chí, dẫn đến gặp những tình huống phức tạp, khác thường trong mối quan hệ. Tương đối vị tha trong tình cảm nhưng cũng không quá khó để bước qua những tổn thương. Thái độ trong giao tiếp: Ngoài lạnh trong ấm, điềm đạm, tinh tế, gần gũi. Khi không thích có thể trở nên lạnh nhạt, hững hờ, thiếu thông cảm chứ ít khi bộc lộ ra. Thái độ trước công việc: Bình tĩnh, chu đáo, nghiêm túc, có thể đưa ra luận giải sâu sắc, cách xử lý rất táo bạo nhưng cần thời gian để phân tích, tính toán. Có thể ứng biến nhanh, nhưng thường thiên theo cơ chế phòng thủ hơn là tấn công. Độ linh hoạt càng cao càng có nhiều sáng tạo tinh tế, đặc biệt. Mệnh lý tốt thì có năng lực lãnh đạo mạnh.

Chính Quan

Chính Quan là thần chủ về khả năng quản lý, định hướng, dẫn dắt. Người ảnh hưởng mạnh bởi Chính Quan

thường coi trọng quyền lực, kỷ luật, có khả năng lãnh đạo, tiên phong - khởi xướng, sự tập trung cao, vừa hăng hái nhiệt tình vừa có thể cân bằng cảm xúc nhanh chóng. Chính Quan có nhu cầu mạnh mẽ khẳng định khả năng và xây dựng vị thế của bản thân. Chính Quan có sự tập trung, có niềm tin mạnh mẽ vào quan điểm của mình, điều này giúp Chính Quan có động lực mạnh mẽ hoàn thành các kế hoạch, tham vọng của mình, nhưng cũng khiến Chính Quan có nguy cơ trở nên bảo thủ, cứng nhắc, đôi khi thiếu nhạy cảm, thiếu cảm thông với cảm xúc của người khác. Cũng vì sự tin tưởng, và tập trung quá cao này mà Chính Quan khi sai lầm có thể gây những hậu quả nghiêm trọng, vì thế Chính Quan trở nên nguy hiểm khi bị những thần mang tính cảm xúc như Tỷ Kiếp, Thực Thương vây hãm, và luôn cần các thần có tính thực tế, cân bằng như Tài Tinh, Ấn Kiêu hộ vệ. Với mệnh Chính Quan bị rối loạn thì độ nóng nảy sẽ tăng, và có thể trở nên vội vàng, hấp tấp. Khí chất cơ bản: Cân bằng, ổn định, bề ngoài hài hòa với môi trường nhưng nội tâm chứa nhiều cảm xúc to lớn, có khả năng điều khiển, kìm nén cảm xúc phù hợp. Phong thái ổn định, cân bằng, họ không quá nhạy cảm nhưng khi có cảm xúc thì sẽ chuyển hóa thành hành động. Nội tâm tích cực hăng hái, luôn điều chỉnh bản thân hướng đến các hoạt động rộng mở. Khả năng tập trung tốt, tư duy tốt, phản ứng tương đối nhanh và hiệu quả. Cân nhắc trước khi hành động, sẵn sàng làm những hoạt động người khác cho là khó khăn. Thái độ trước tham vọng, động lực: Tham vọng cao, có động lực lớn để theo đuổi các tham vọng.

Khả năng tập trung: Cao, hoặc rất cao. Duy trì bền bỉ trước áp lực lớn. Phản ứng trước tình cảm: Có sự đam mê, nhưng dùng ý chí để cân bằng, tình cảm cũng quan trọng, nhưng không phải là quan trọng nhất, không quá khó để bước qua những tổn thương, thi thoảng họ chơi hết mình, nhưng thường làm việc hết sức. Họ có sự kén chọn trong tình cảm, có phần thực tế trong tình cảm. Thái độ trong giao tiếp: Hài hòa, giao tiếp tương đối tích cực, nói chuyện lưu loát, hấp dẫn, mở rộng mối quan hệ với nhiều đối tượng, nắm bắt được tâm lý đối phương để cư xử phù hợp, có chủ đích nhất định trong giao tiếp. Tích cực trong tương tác với người khác, đôi khi có xu hướng điều khiển, trấn áp tư tưởng người khác. Thái độ trước công việc: Trách nhiệm, tích cực mà vẫn giữ được sự thận trọng. Phản ứng không quá nhanh nhưng chắc chắn không chậm chạp và hiệu quả. Với mệnh lý Chính Quan bị rối loạn có thể trở nên phản ứng nhanh, nóng nảy, hấp tấp.

Ấn Kiêu

Ấn Kiêu là thần sinh cho nhật can, mang hình ảnh một người mẹ, một người thầy, đi chăm sóc, giáo dục. Ấn Kiêu có thiên hướng nội tâm, khả năng sư phạm, suy nghĩ sâu sắc các vấn đề, có thể có khả năng sư phạm, hướng dẫn cho người khác. Đôi khi Ấn Kiêu trở nên hơi chi tiết, tỉ mỉ, giáo điều (Quan, Sát cũng dễ có đặc điểm này). Ấn Kiêu cũng giống Chính Quan ở sự tập trung, có niềm tin mạnh mẽ vào quan điểm của mình, điều này giúp họ có sự kiên định, chăm chỉ, cần cù để hoàn thành các kế hoạch, nhưng cũng khiến họ có nguy cơ trở nên bảo thủ, cứng nhắc, đôi khi thiếu sự cảm thông, sự nhạy cảm với cảm xúc của người khác. Ấn Kiêu khác Chính Quan ở chỗ tham vọng của họ không quá lớn, phản ứng không thực sự nhanh nhạy, và suy nghĩ quá nhiều có thể trở nên thiếu quyết đoán. Mệnh Ấn Kiêu không được chuyển hóa tốt thì trở nên cục mịch, ứng biến kém, giao tiếp hạn chế, lý thuyết nhiều mà sáo rỗng, thiếu quyết đoán, ham hư danh. Mệnh bị Tài tinh phá hoại cách cục, hoặc Ấn Kiêu thái quá bị Tài kích loạn thì mang nhiều đặc điểm của cách Tài tinh, nhưng là điểm xấu, có thể trở nên quá linh hoạt, nôn nóng, lừa dối. So với nam giới, nữ giới mang Ấn Kiêu có thể hiện năng động hơn, hăng hái hơn, họ sẽ giống như một người mẹ tốt bụng, tháo vát, thích quán xuyến, chăm lo cho mọi người, nhạy cảm với nhu cầu của người khác, có tầm quan hệ tương đối rộng để hỗ trợ cho bản năng chăm lo của mình, tác dụng phụ là đôi lúc thị phi, nói nhiều, can thiệp vào việc của người thân hơi sâu. Khí chất cơ bản: Bình thản, điềm tĩnh, thiên hướng nội tâm, có tư duy sâu, làm việc gì cũng tính kỹ, đa mưu, thận trọng, ít mạo hiểm, thận trọng khi bộc lộ bản thân.

Làm việc bài bản, ổn định, khi hình thành thói quen thì ít thay đổi. Trọng danh, trọng thể diện, đôi khi trọng hư danh, có thể quan tâm đến kế hoạch bản thân hơn là tập thể, khi đó có thể bướng bỉnh, vô trách nhiệm, thờ ơ trước cảm nhận của người khác. Thái độ trước tham vọng, động lực: Thiếu tham vọng, có sức ì đáng kể, có thể hay chậm kế hoạch. Khả năng tập trung: Khả năng tập trung cao, có thể bền bỉ trước áp lực, nhưng đôi khi tập trung quá vào một vấn đề gì đó trở nên chậm chạp với các hoạt động khác. Phản ứng trước tình cảm: Không quá nhạy cảm, ít khi hưng phấn, thường thể hiện bằng sự dịu dàng, ân cần, có chiều sâu, chung thủy, bền bỉ với thời gian. Cố gắng cân bằng tình cảm và cuộc sống riêng, nhưng cơ bản thì họ vẫn cần không gian riêng tư cho cá nhân họ nhiều. Thái độ trong giao tiếp: Cân bằng trong giao tiếp, thiên về sự điềm tĩnh. Có phạm vi quan hệ tương đối rộng, cho dù chất lượng các mối quan hệ không phải lúc nào cũng tốt. Biết lắng nghe, thường tỏ ra ân cần, gần gũi, đáng tin cậy. Có khả năng cảm nhận thái độ của người khác, ít nổi nóng. Có xu hướng châm biếm, mỉa mai với những thứ khác biệt, dị ứng với những thứ biến động quá nhanh, với những người quá tham vọng. Thái độ trước công việc: Ham học hỏi, tìm tòi, tư duy sâu, nhưng chậm thích nghi trước cái mới, đôi khi bảo thủ, đơn điệu, sáng tạo hạn chế.

Sự phối hợp tâm tính các can chi trong bát tự

Chúng ta chỉ có 6 nhóm thập thần, nếu phân chia tỷ mỉ hơn một chút cũng chỉ là 10 thần, không đủ phân tích

hết sự thiên biến vạn hóa trong tâm tính con người. Ví dụ giữa 1 giáo sư đại học với 1 người làm lao động phổ thông thì rất dễ thấy, nhưng giữa 2 vị giáo sư đại học, họ có cùng có sự điềm tĩnh, ham học hỏi, trình độ học vấn và nhiều tố chất ngang nhau thì lại cần phân tích ở mức độ sâu sắc hơn. Giữa họ có thể có 1 người linh hoạt hơn và có danh tiếng tốt hơn, còn 1 người thì mải mê nghiên cứu chuyên môn nhưng danh tiếng kém hơn. Bởi mỗi người trong chúng ta có thể có những phần tính cách nòng cốt và những phần phụ trợ khác nữa. Ngoài ra, cũng với ví dụ là những người thầy, có người thầy thực tâm chia sẻ, dạy dỗ cho học trò, có người thầy khi thấy trò giỏi thì bắt đầu tìm cách vùi dập. Lại có những người bề ngoài tỏ ra đạo đức, nhưng bên trong thì nghĩ cách ăn cắp chất xám của người khác, hay dung túng những kẻ xấu xa. Đó bởi vì những phần nòng cốt và phụ trợ của họ có thể đồng nhất hoặc mâu thuẫn.

Tổng quan về quá trình tìm hiểu tính cách

qua phân tích bát tự

Bố cục các thập thần trong bát tự tạo nên cấu trúc nền tảng của tính cách. Phần bên dưới là các địa chi, đặc biệt là chi tháng và nhóm chi mạnh nhất, là phần thiên về sự thu nhận, đại diện cho cách cảm nhận của mỗi người về các đối tượng trong cuộc sống. Phần bên trên là các thiên can, đặc biệt là can ngày, can tháng, can giờ thường là đại diện cho cách lý luận, biện chứng, nhân sinh quan của con người. Lưu ý khi phần bên trên là các can hư phù, thì phần bên dưới có thể can thiệp vào chức năng của phần bên trên. Giống như khi lý trí không thể dẫn dắt hành vi thì tình cảm sẽ quyết định vậy. Các thần đóng vai trò quan trọng trong sự vận hành chung của bát tự tạo nên những đặc tính nổi trội. Từ các phần bên trên, bên dưới, bên trong bên ngoài, xa Nhật chủ - gần Nhật chủ mà ta xác định được những yếu tố gây ảnh hưởng, tổng hòa với nhau, tuy nhiên trong sự hỗn loạn đó thì có những thành phần nổi bật lên, đó là dụng thần, hỷ thần, là kỵ thần, dù là tham gia tích cực hay tham gia tiêu cực trong quá trình vận hành bát tự thì chúng đều là các thần gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến tâm tính con người. Đặc trưng của ngoại cảnh: di truyền, gia đình, xã hội có thể hỗ trợ, ức chế một số nét tính cách thể hiện trong bát tự. Luận tính cách qua bát tự, cũng như luận các vấn đề

khác nói chung đều giống như phân tích những mầm cây, còn để biết sự phát triển trên thực tế thì phải hiểu về thổ nhưỡng, khí hậu - điều kiện bên ngoài thực tiễn với những đặc thù riêng. Một đứa trẻ năng động sinh ra trong gia đình thiếu năng động sẽ bị coi là nghịch ngợm, hay một đứa trẻ nhân hậu trưởng thành trong môi trường tham vọng sẽ bị đánh giá là chậm chạp, yếu đuối, điểm chung là chúng sẽ có thể bị ức chế sự phát triển của mình.

Phần nòng cốt - phần nổi trội

Chi tháng là nền tảng của phần nòng cốt này. Các thập thần tàng trong địa chi tháng, dụng thần, cát thần tàng chi tháng, hay các thập thần có ngũ hành tham gia hội hợp cùng chi tháng có thể trở thành phần nòng cốt. Nếu có quá nhiều thập thần có sức gây ảnh hưởng thì thần nào đóng tại can tháng, can giờ có thể là đối tượng ưu tiên. Các vị trí can chi cần chú ý

Ví dụ: Nam mệnh từng nhắc đến trong chương 14

Phần nòng cốt, Ấn Kiêu vừa là dụng thần vừa tàng trong chi tháng lại có kết nhóm mạnh, mệnh chủ thể hiện chủ yếu là người điềm đạm, tri thức, học vấn cao, hiểu biết pháp luật. Nhưng đặc tính nổi trội là kỵ thần: Tài tinh, khôn lanh, tham lam. Đến vận Nhâm Dần, Ấn Kiêu Thân kim bị xung, Tài tinh hỏa được mộc sinh, Thực Thương sinh càng tăng sự tham lam, gia tăng sự linh hoạt, trở nên quá linh hoạt, không kiềm chế được dục vọng của bản thân, linh hoạt với cả pháp luật phạm pháp, bị truy tố. Khi phần phụ trợ là phần nổi trội (kỵ thần hoặc dụng thần) xuất hiện nhiều và có được vị thế ảnh hưởng đến nhật can mạnh mẽ thì đó trở thành phần tính cách chi phối, khiến Nhật chủ cảm nhận nó mạnh mẽ. Ví dụ nữ mệnh sau:

Phần cốt lõi là Quan, Ấn, nên là người có bề ngoài ổn trọng, chăm chỉ, hăng hái, dám nghĩ dám làm, do tính cách của Chính Quan, nhưng trụ giờ Giáp Dần, Thương Quan là kỵ thần - nổi trội - có lực mạnh, ở vị thế ảnh hưởng lớn, dẫn đến đương số có phần quá tự do, quá linh hoạt, hấp tấp, thiếu suy xét, dẫn đến phạm pháp. Cũng vẫn là nguyệt lệnh Ấn Kiêu mà kỵ thần bị chế, phần nổi trội, chiếm vị thế lại kết hợp hài hòa với dụng thần, như sau:

Tài tinh là kỵ thần - nổi trội, tại can giờ - vị thế ảnh hưởng, nhưng là Tài tinh có chế hóa, bát tự nòng cốt là Thiên Ấn (Kiêu), phần ảnh hưởng mạnh là Tài tinh. Ấn Kiêu chủ quản lý, Tài tinh chủ tiền, là người mang phong cách của Ấn Kiêu mà đầu tư tài chính. Warrent Buffet là một nhà đầu tư rất bài bản, điềm tĩnh (tính cách của Ấn Kiêu), nhưng vẫn có sự nhạy bén với tiền tài (tính cách của Tài tinh). Do Ấn Kiêu là phần cốt lõi lại là dụng thần (cốt lõi + nổi trội) nên ông mang khí chất của Ấn Kiêu nhiều hơn.

Phần phụ trợ nổi trội

Phần phụ trợ không nổi trội có thể không thể hiện nhiều, nhưng phần phụ trợ nổi trội cũng tùy vào mức độ mạnh yếu và vị thế ảnh hưởng mà trở nên ảnh hưởng lớn, lâu dài hay bột phát. Ví dụ Bill Clinton:

Thương Quan Bính hỏa kỵ thần can tháng được can năm tương trợ có gốc tại chi năm, nên thời niên thiếu không

hạnh phúc có thể là nguyên nhân gây ra những vấn đề trong tâm lý, ảnh hưởng tới nhân cách, may mắn thổ kim nhiều nên hỏa không phát tác mạnh, đến vận Tân Sửu, Sát làm hỗn tạp cách cục, khiến Thương Quan có cơ hội phá hoại, không kiềm chế được dục vọng, suýt làm hỏng mất sự nghiệp. Bát tự tòng cường thì phụ trợ nổi trội có thể nhìn rất yếu nhưng lại có ảnh hưởng lớn. Ví dụ Sir Alex Ferguson:

Tòng cường cách cần Quan Sát, nhưng là Quan Sát yếu thì tốt, vì Tỷ Kiếp, Ấn Kiêu cần sự tập trung sâu và khả năng chịu sức ép của Quan Sát bổ trợ. Bát tự có Sát tàng trong Sửu được Tỵ hỏa bổ trợ, nên kết cấu Tài Sát này trở thành phần nổi trội mà mệnh chủ cảm nhận được rõ ràng. Dẫn đến tính khí ông vừa có sự hiếu thắng của Tỷ Kiếp, vừa có sự tận tụy như một người cha của Ấn Kiêu, vừa có tư duy sâu và sự liều lĩnh của Thất Sát.

Sự ảnh hưởng của gia đình và văn hóa có thể khiến các thành phần

trở nên khác biệt D. Trump và Levitte:

Trong mệnh cha của Trump có Ất mộc là Thất Sát dẫn đến ông có thiên hướng đam mê và bùng nổ hơn. Cha của Levitte mệnh Ấn rất nặng khiến ông mang nhiều sự điềm đạm của Ấn Kiêu hơn. Ngoài ra, một người ở Mỹ với văn hóa bùng nổ, sôi động cũng sẽ khác một người sinh trưởng ở nước Pháp chuộng sự cổ điển, lịch lãm. Nhưng nếu so sánh giữa các nhà ngoại giao thì Leviite cũng thuộc nhóm gai góc, tự tin và cạnh tranh mạnh mẽ. Khi là cố vấn cao cấp của Tổng Thống Pháp, ông từng có những mâu thuẫn rất gay gắt với Bộ trưởng Ngoại giao đương thời. Nếu Trump có quan điểm “nước Mỹ trên hết” thì Levitte cũng có nhiều bài viết thể hiện quan điểm tôn vinh các giá trị châu Âu, thay vì tin tưởng vai trò của Mỹ.

Kết luận

Nếu như hiểu về đặc thù văn hóa, gia đình của một người thì cùng với bát tự của người đó chúng ta có thể lập nên một báo cáo tâm lý không thua kém các công cụ phân tích tâm lý phổ biến hiện nay. Thậm chí Bát tự Tử Bình có thêm một ưu thế khi có thể dự đoán được một số thay đổi trong tâm tính của con người trong các khoảng hành vận. Nhưng ở một khía cạnh khác, chúng ta không nên lạc quan quá về hiệu quả của Bát tự Tử Bình, hay các môn huyền học khác cả ở phương Đông lẫn phương Tây khi chưa có đủ thông tin đầu vào về ngoại cảnh của họ. Cuối cùng, tôi cho rằng Bát tự Tử Bình là một môn có tiềm năng, chứ không phải là công cụ có thể thay thế các công cụ khác của khoa học về tâm lý con người.

Chương 21 — Thực hành luận bát tự với 8 câu hỏi

Đôi khi người mới học sẽ bối rối không biết khai triển luận đoán bát tự như thế nào, vì vậy tôi xây dựng hệ thống 8 câu hỏi dẫn dắt. Trong các câu hỏi này có những câu nhằm mục đích nêu ra vấn đề và những câu gợi mở phương án thẩm định lại giả thuyết. Với hầu hết cách cục thì hệ thống 8 câu hỏi này sẽ giúp người học định hướng tìm dụng thần, qua đó hiểu hơn về cách vận hành bát tự, xin lưu ý thêm một lần nữa, dụng thần chỉ là 1 dấu hiệu để nhận biết về cách vận hành chứ không phải là đích đến sau cùng của chúng ta, mà cách vận hành phức tạp của 8 can chi mới là điều chúng ta cần phải lưu ý. Ngoài ra với một số cách cục trong nguyệt lệnh Thực Thương, Thực Thương phối Quan Sát, Thực Thương phối Ấn Kiêu, bát tự để vận hành tốt thì cần có cả 2 nhóm thập thần trái ngược nhau tham gia vận hành, nói cách khác chúng đều là dụng thần, người học cần hiểu kỹ cách cục để triển khai luận đoán.

Câu hỏi 1: + Địa chi nguyệt lệnh tàng những thập thần nào? + Thập thần nào là chủ khí? Thần nào ẩn tàng, thần nào thấu xuất ra? Câu hỏi 2: + Từ chủ khí nguyệt lệnh có thể tạo thành các cách cục nào? + Nguyệt lệnh có hội hợp với can chi nào khác không? Có thể có biến cách nào không? Câu hỏi 3: + Chính Quan, Thất Sát có xuất hiện trong bát tự không? Chúng có phải là các can thấu có gốc không? Có được củng hợp ở địa chi không? Có xuất hiện ở trên can trụ giờ không? + Có thể tạo thành Chính Quan, hoặc Thất Sát cách không? Câu hỏi 4: + Bát tự có phải tòng cách không? Câu hỏi 5: + Kết luận là cách cục gì? + Thập thần chủ đạo là cát thần hay hung thần? + Có bị khắc chế không? Có bị thái quá hay không? Có được sinh trợ nhiều không? + Lấy thần nào làm dụng thần để xem?

Câu hỏi 6: + Xác định dụng thần động nhiều hay tĩnh nhiều? Nếu quá vượng, hội hợp củng cố quá nhiều không có đối thủ là tĩnh, nếu có đi sinh khắc, có bệnh, có thuốc thì động. + Hỏa trong mùa hè, thủy trong mùa đông có điều hậu hay không? Câu hỏi 7: + Để dụng thần được vận hành trôi chảy, chống lại khắc phá, có tính động ổn định thì cần các can chi nào? + Các can chi ấy ứng với những thập thần nào? - Hay là những can chi nào nằm trong nhóm dụng, hỷ thần? Câu hỏi số 8: + Dụng hỷ thần trong bát tự vận hành ngược chiều hay xuôi chiều? Trụ giờ có phải dụng, hỷ thần hay không?

Ví dụ 1: Bát tự cựu tổng thống Hoa Kỳ, Bill Clinton Bính Tuất - Bính Thân - Ất Sửu - Canh Thìn

Câu hỏi 1: + Địa chi nguyệt lệnh tàng những thập thần nào?

Địa chi nguyệt lệnh là Thân. Canh là chủ khí, tàng Canh, Nhâm, Mậu, Quan, Ấn, Tài, + Thập thần nào là chủ khí? Thần Chính Quan Canh thấu ra ở trụ nào ẩn tàng, thần nào thấu xuất giờ. ra? Câu hỏi 2: + Từ chủ khí nguyệt lệnh có thể tạo thành các cách cục nào?

Chính Quan cách.

  • Nguyệt lệnh có hội hợp với can chi nào khác không? Có thể có biến cách nào không?

Có bán hợp với Thìn, ám thấu ra Ấn tinh Nhâm thủy.

Câu hỏi 3: + Chính Quan, Thất Sát có xuất Chính Quan thấu tại trụ giờ, kết hiện trong bát tự không? Chúng đảng kim với Thân, Sửu. có phải là các can thấu có gốc không? Có được củng hợp ở địa chi không? Có xuất hiện ở trên can trụ giờ không? + Có thể tạo thành Chính Quan, hoặc Thất Sát cách không?

Có thể lập cách Chính Quan. Quan thấu trụ giờ còn gọi là Thời thượng Chính Quan cách, một cách có thể trở nên quý.

Câu hỏi 4: + Bát tự có phải tòng cách không?

Nói có cũng được mà nói không cũng không sao. Chính Quan tuy khắc nhật can nhưng là cát thần, lại hợp nhật can. Ý này không quan trọng, không ảnh hưởng tới luận đoán.

Câu hỏi 5: + Kết luận là cách cục gì?

Chính Quan cách

  • Thập thần chủ đạo là cát thần hay hung thần?

Chính Quan, cát thần.

  • Có bị khắc chế không? Có bị thái quá hay không? Có được sinh trợ nhiều không? + Lấy thần nào làm dụng thần để xem?

Bị khắc, được sinh trợ nhiều. Lấy Chính Quan làm dụng thần chủ lực. Quan bị Thương Quan khắc, cần Ấn kiêu khắc Thương hộ Quan, cần Tài tinh hóa Thương sinh Quan. Ấn không thấu, Tài Ấn không khắc nhau, Tài tuy là thổ, nhưng lại là thấp thổ tàng Ấn, nên có thể kiêm dùng cả 2.

Câu hỏi 6: + Xác định dụng thần động nhiều hay tĩnh nhiều? Nếu quá vượng, hội hợp củng cố quá nhiều không có đối thủ là tĩnh, nếu có đi sinh khắc, có bệnh, có thuốc thì động.

Dụng thần động nhiều, có Thương khắc Quan là bệnh, có Tài tàng ở cả 4 địa chi làm thuốc, Ấn tuy không thấu nhưng cũng tàng ở cả 4 địa chi. Nên tuy bị Thương Quan là 2 can Bính hỏa khắc Thương nặng nhưng cũng có cứu giải.

  • Hỏa trong mùa hè, thủy trong mùa đông có điều hậu hay không? Không cần xét

Câu hỏi 7: + Để dụng thần được vận hành trôi chảy, chống lại khắc phá, có tính động ổn định thì cần các can chi nào?

Do Quan bị Thương khắc nên cần Tài và Ấn phối hợp để bảo vệ Quan, trong bát tự này Tài Ấn tuy không thấu can nhưng tàng nhiều ở địa chi, bản thân Quan cũng có gốc tại 3 trụ năm, tháng, ngày khá ổn định, mạnh mẽ. Tài, Quan, Ấn đều là dụng, hỷ thần. + Các can chi ấy ứng với những Tài, Quan, Ấn đều là dụng, hỷ thập thần nào? - Hay là những can thần. chi nào nằm trong nhóm dụng, hỷ thần? Câu hỏi số 8: + Dụng hỷ thần trong bát tự vận hành ngược chiều hay xuôi chiều? Trụ giờ có phải dụng, hỷ thần hay không?

Xuôi chiều, trụ giờ là dụng thần. Chi giờ là hỷ thần, tàng dược thần.

Kết luận: đây là bát tự có nhiều yếu tố để lý giải thành công trong sự nghiệp do Quan là dụng thần, có tính động mạnh, có bệnh có thuốc, vượng, gốc sâu, thời thượng kiến Quan cách, xuôi chiều. Đầu đời do Bính hỏa lưỡng hiện khắc Quan nên vất vả, cha ruột sinh năm 1918 tuổi Ngọ kích động Thương Quan, nên mất sớm, mẹ sinh năm 1923 tuổi Quý Hợi, Quý thủy trợ thấu Chính Ấn xuất ra, có thể coi là 1 cơ sở lý luận cho sự tích cực về ngoại cảnh tới nguyên

cục, tạo nên sự khác biệt của ông với những người sinh cùng ngày giờ. Vợ tuổi Đinh Hợi tuy Đinh không tốt, nhưng Hợi lại tốt, hơn nữa chi ngày Sửu thổ vừa là gốc gần của Chính Quan Canh kim, vừa chứa Tài, Ấn là hỷ thần là một cung rất tốt. Tính cách: phần bên trong và phần bên ngoài tương đồng hỗ trợ nhau, tính cách ảnh hưởng mạnh nhất bởi Chính Quan, chí cầu tiến rất cao, tham vọng chính trị từ nhỏ, chăm chỉ nỗ lực nhiều năng lượng. Tài Ấn không khắc nhau đều tàng tại nguyệt lệnh, con người vừa có tính hệ thống của Ấn tinh, vừa có tính linh hoạt của Tài tinh. Thương Quan khắc Quan mạnh, tuy có cứu, nhưng vẫn mang nhược điểm của Thương Quan, là nguy cơ bất ổn tâm lý, ham muốn hưởng thụ tinh thần, sự thiếu kiểm soát cảm xúc, nói chung là có rối loạn nhẹ. Hành vận: hành vận ngày nhỏ kết hợp với nguyên cục là những vận không tốt, Quan Sát xuất hiện không có chế thì gặp những bất lợi, thiếu sự bảo vệ che chở tốt. Vận hành địa chi Hợi, Tý, Sửu bắc phương thủy cục đều là những vận tốt, vận Tân Sửu Quan Sát hỗn tạp, nên cho dù đắc cử tổng thống vẫn bị luận tội bởi những bê bối cá nhân. Vận Nhâm Dần, Bính hỏa Thương Quan có gốc, lưu niên Giáp Thân kích động Dần sinh Bính hỏa, gặp vấn đề nghiêm trọng về bệnh tim, phải mổ vì nghẽn động mạch tim. Vận Quý Mão, tuy cũng là mộc, nhưng hỏa không có gốc không đáng sợ, tuy nhiên cũng không phải vận thực sự tốt, hỗ trợ vợ tranh cử bất thành.

Ví dụ 2: Cũng là Chính Quan bị khắc nhưng không có cứu trợ đủ mạnh, bát tự nữ diễn viên Mỹ Marilyn Monroe Bính Dần - Quý Tỵ - Tân Dậu - Quý Tỵ

Câu hỏi 1: + Địa chi nguyệt lệnh tàng những Chính Quan, Chính Ấn, Kiếp Tài thập thần nào? + Thập thần nào là chủ khí? Thần Chính Quan chủ khí, Chính Quan nào ẩn tàng, thần nào thấu xuất thấu ra? Câu hỏi 2: + Từ chủ khí nguyệt lệnh có thể Chính Quan tạo thành các cách cục nào? + Nguyệt lệnh có hội hợp với can Có, bán hợp kim cục với Dậu, chi nào khác không? Có thể có nhưng bán hợp này không mạnh biến cách nào không? vì Dần Tỵ cạnh nhau tương hình, hơn nữa 2 Tỵ hợp 1 Dậu, không mạnh. Không luận biến cách. Câu hỏi 3: + Chính Quan, Thất Sát có xuất Chính Quan thấu trụ năm hiện trong bát tự không? Chúng có phải là các can thấu có gốc không? Có được củng hợp ở địa chi không? Có xuất hiện ở trên can trụ giờ không? + Có thể tạo thành Chính Quan, hoặc Thất Sát cách không? Câu hỏi 4: + Bát tự có phải tòng cách không?

Không

Câu hỏi 5: + Kết luận là cách cục gì?

Chính Quan cách

  • Thập thần chủ đạo là cát thần Cát thần hay hung thần? + Có bị khắc chế không? Có bị Bị khắc chế, không thái quá, ít thái quá hay không? Có được sinh sinh trợ, Tài tinh Dần mộc tuy trợ nhiều không? sinh Chính Quan như lại tương hình, tương hại + Lấy thần nào làm dụng thần để xem? Câu hỏi 6: + Xác định dụng thần động nhiều hay tĩnh nhiều? Nếu quá vượng, hội hợp củng cố quá nhiều không có đối thủ là tĩnh, nếu có đi sinh khắc, có bệnh, có thuốc thì động.

Dụng thần động nhiều, bị khắc, có bệnh, có thuốc là Tài tinh nhưng yếu, bản chất thuốc này cũng mang 1 loại bệnh khó xử lý

  • Hỏa trong mùa hè, thủy trong Có thủy điều hậu mùa đông có điều hậu hay không? Câu hỏi 7: + Để dụng thần được vận hành Cần Tài sinh Quan, Ấn Kiêu khắc trôi chảy, chống lại khắc phá, có Thực Thần hộ Quan tính động ổn định thì cần các can chi nào? + Các can chi ấy ứng với những Tài – chi Dần, Ấn tàng trong Tỵ, thập thần nào? - Hay là những can 2 chi này hình hại nhau, bất ổn chi nào nằm trong nhóm dụng, hỷ thần?

Câu hỏi số 8: + Dụng hỷ thần trong bát tự vận hành ngược chiều hay xuôi chiều? Trụ giờ có phải dụng, hỷ thần hay không?

Ngược chiều vì tuy chi giờ là gốc Chính Quan nhưng xa cách, lại bán hợp cho kim, can giờ là Thực Thần khắc Chính Quan cũng coi như Thương Quan.

Kết luận: Bát tự dụng thần Chính Quan vượng tướng, có tính động cao nhưng bất ổn vì 2 nguyên nhân, một là do gốc gặp hình hại, hai là do có 2 can Thực Thần khắc Quan. Có thể lý giải với diễn biến mệnh lý được nhiều thành công nhưng gặp nhiều trắc trở, tai họa. Thực Thần trụ giờ thể hiện xu hướng nghệ thuật, lãng mạn, Chính Quan vượng thể hiện khả năng thành công trong sự nghiệp, bát tự ngược chiều thể hiện xu thế bị đứt gãy, kết cục không tốt, Thực Thần trụ giờ cũng là tượng con cái, nên khó khăn về đường con cái. Mẹ sinh năm 1902, năm Nhâm Dần, tháng Ất Tỵ ngày Canh Tuất, một tổ hợp có thể làm tăng sự hình hại trong bát tự, Dần vừa tốt vừa xấu tạo nên sự khác biệt của bà với những người sinh cùng thời điểm. Thông tin về cha không rõ ràng. Tính cách: phần bên trong là Chính Quan với nỗ lực, tham vọng mạnh, nhưng phần cá tính bên ngoài lại là Thực Thần khắc Quan (như Thương Quan) ảnh hưởng mạnh, bất ổn tâm lý mạnh, Thực Thần lưỡng thấu thể hiện khả năng trình diễn, nhưng khắc Quan chế hóa yếu thì kỷ luật kém, Ấn tàng bị hại phá khả năng học tập nghiên cứu bài bản không tốt, cung phu Dậu kim tranh hợp 2 tỵ, khắc Tài không hỗ trợ dụng thần thể hiện hôn nhân kém, kết hợp với

Thực Thần phá Quan thể hiện thông tin không chung thủy trong hôn nhân, cảm xúc mạnh trong tình cảm, đa tình, dễ yêu dễ tan vỡ. Hành vận: thời thơ ấu, vận hành đất hỏa được cho làm con nuôi, bình ổn hạnh phúc như những đứa trẻ khác, sau 8 tuổi bước sang vận Nhâm Thìn, Nhâm thủy khắc dụng thần, Thìn là gốc của Quý càng tăng sự khắc Quan, 9 tuổi được mẹ đẻ đón về bắt đầu một giai đoạn bão tố, liên tục bị lạm dụng tình dục, chịu những tổn thương lớn về mặt thể chất lẫn tâm lý, kết hôn sớm. Từ năm 1944 bắt đầu vào vận Tân Mão, ở vận này có Mão mộc Tài tinh sinh Quan Bính hỏa, nên vận mệnh tốt dần, bắt đầu sự nghiệp làm mẫu ảnh, 5 năm đầu tiên với 7 phần Tân, 3 phần Mão nên còn khá vất vả, Bính - Tân tương hợp lẫn tranh đấu, ly hôn chồng đầu, và quyết tâm xây dựng sự nghiệp. Lưu niên Bính Tuất, Chính Quan nắm lệnh được ký hợp đồng giá trị ngắn hạn đầu tiên, năm Đinh Hợi, Quan Sát hỗn tạp, nên tuy đầu năm được gia hạn cuối năm Hợi thủy xung Tỵ hỏa gốc Quan tinh nên lại bị cắt hợp đồng. Năm 1948, Mậu Tý Chính Ấn được dẫn động, sự nghiệp lại phát triển, từ 1949 trở đi Mão mộc chiếm 7 phần sinh trợ Quan tinh nên sự nghiệp tốt dần. Từ năm 1954 bắt đầu 10 năm vận Canh Dần, Dần mộc thể hiện cả tính tốt và xấu, vừa sinh trợ dụng thần vừa phá hoại dụng thần. Danh tiếng lên đỉnh cao, được đề cử Quả Cầu Vàng, nhưng cũng lại dính vào nhiều bê bối, thị phi, kết hôn rồi ly hôn nhiều lần, quan hệ ngoài hôn nhân, sảy thai, nghiện rượu, phải điều trị tâm lý, dùng nhiều thuốc an thần... và đỉnh điểm của Dần hình Tỵ là mất năm Nhâm Dần 1962.

Ví dụ 3: Ấn tinh cách bát tự Warrent Buffet Canh Ngọ - Giáp Thân - Nhâm Tý - Đinh Mùi

Câu hỏi 1: + Địa chi nguyệt lệnh tàng những Thân tàng Canh, Nhâm, Mậu thập thần nào? Thiên Ấn, Tỷ Kiên, Thất Sát + Thập thần nào là chủ khí? Thần nào ẩn tàng, thần nào thấu xuất ra? Câu hỏi 2: + Từ chủ khí nguyệt lệnh có thể tạo Chính Ấn cách thành các cách cục nào? + Nguyệt lệnh có hội hợp với can Thân Tý bán hợp thủy cục, chi nào khác không? Có thể có biến nhưng không ảnh hưởng nhiều cách nào không? đến việc định cách, không biến cách Câu hỏi 3: + Chính Quan, Thất Sát có xuất hiện Sát tàng tại trụ tháng, Quan tại trong bát tự không? Chúng có phải chi giờ là các can thấu có gốc không? Có được củng hợp ở địa chi không? Có xuất hiện ở trên can trụ giờ không? + Có thể tạo thành Chính Quan, Không, Quan ở đây đóng vai hoặc Thất Sát cách không? trò hỗ trợ Ấn mà thôi. Câu hỏi 4: + Bát tự có phải tòng cách không?

Không

Câu hỏi 5: + Kết luận là cách cục gì?

Chính Ấn

  • Thập thần chủ đạo là cát thần hay Cát thần hung thần? + Có bị khắc chế không? Có bị thái Có bị khắc, Ngọ khắc Thân quá hay không? Có được sinh trợ nhưng có Tý xung Ngọ cứu giải. nhiều không? Không thái quá. Nhìn chung là cũng được sinh trợ + Lấy thần nào làm dụng thần để Thiên Ấn xem? Câu hỏi 6: + Xác định dụng thần động nhiều hay tĩnh nhiều? Nếu quá vượng, hội hợp củng cố quá nhiều không có đối thủ là tĩnh, nếu có đi sinh khắc, có bệnh, có thuốc thì động.

Dụng thần động nhiều, thiên can cũng đi khắc, ở chi có bị khắc nhưng được cứu giải, đây là có bệnh gặp thuốc, có thể phát huy thực lực.

  • Hỏa trong mùa hè, thủy trong Không cần điều hậu mùa đông có điều hậu hay không? Câu hỏi 7: + Để dụng thần được vận hành trôi Cần Quan sinh Ấn, cần Tỷ Kiếp chảy, chống lại khắc phá, có tính chế Tài hộ Ấn. động ổn định thì cần các can chi nào? + Các can chi ấy ứng với những Ấn Kiêu, Chính Quan, Thiên thập thần nào? - Hay là những can Quan, Tỷ Kiên, Kiếp Tài chi nào nằm trong nhóm dụng, hỷ thần?

Câu hỏi số 8:

Bát tự vẫn coi là thuận chiều, bởi tuy can giờ khắc Ấn nhưng + Dụng hỷ thần trong bát tự vận can giờ là Tài tinh, bị Nhật chủ hành ngược chiều hay xuôi chiều? hợp mất, Nhật chủ gốc vượng, Trụ giờ có phải dụng, hỷ thần hay Tài tinh bị cô lập, Thực Thần không? Giáp mộc tại can tháng hư phù không gốc, lại bị Ấn ngay cạnh khống chế, không đủ lực sinh Tài, Tài tinh được coi như bệnh có thuốc chế khử triệt để, giống như vaxcin giúp cơ thể chống chọi bệnh tật được tốt hơn. Chi giờ tàng chính quan, cát thần tương sinh với dụng thần, nên tổng quan là thuận.

Kết luận: Bát tự nguyệt lệnh Chính Ấn cách, trụ tháng có Ấn tàng Sát, lại 1 can Ấn thấu, có bệnh có thuốc, dụng thần hoạt động mạnh, vượng tướng, được sinh trợ, thuận chiều nên có lực lâu dài, đạt nhiều tiêu chí khẳng định mệnh tốt. Trụ giờ Chính Tài, thành cách thời thượng Chính Tài cũng là 1 tiểu cách tốt. Cha ông sinh ngày 13/8/1903 năm Quý Mão, tháng Canh Thân, ngày Quý Dậu, cũng là một tổ hợp kim thủy mạnh hỗ trợ cho dụng thần Canh kim ở trụ năm là tiêu chí ngoại cục phù hợp để lý giải sự vượt trội của ông so với những người sinh cùng ngày giờ khác. Nhiều khả năng 2 cha con là 2 cách cục tương tự nhau. Dụng thần vượng tướng thành công trong sự nghiệp, Tài tinh có gốc tại trụ giờ lại được khống chế chặt chẽ, chế Tài là đoạt được Tài, kết hợp có thể thấy phù hợp với thực

tế ông là một nhà đầu tư vĩ đại. Tính cách bị ảnh hưởng nhiều bởi Ấn tinh, là người tin tưởng vào các hệ thống chặt chẽ, chắc chắn, phương pháp thiên về học thuật, khả năng lĩnh hội lý thuyết tốt, điềm đạm, từ tốn, kiên nhẫn, có năng lực học tập và sư phạm, nhân ái, thích làm việc thiện. Phần bên ngoài là Tài được hợp, linh hoạt, quyết đoán, luôn có thể đưa ra giải pháp trước khó khăn, nhạy bén với tiền tài, có năng lực đưa ra giải pháp các vấn đề hay khả năng tư vấn cho người khác. Với cá tính của Ấn Kiêu, Tỷ Kiếp mạnh thì hôn nhân tuy quan trọng nhưng công việc còn quan trọng hơn. Chi ngày tuy là hỷ thần nhưng gặp xung, gặp hại, hôn nhân bên cạnh những điều tích cực thì cũng có những phần bất lợi. Hôn nhân của ông có phần kỳ lạ, sau một thời gian sống chung với nhau, vợ giới thiệu người khác bầu bạn với ông để theo đuổi sự nghiệp ca hát riêng, sau khi vợ đầu của ông bệnh mất thì ông mới kết hôn với người vợ thứ hai này. Nhìn chung Ấn tinh là thần rất coi trọng sự ổn định, vững chãi nên ông chọn cách phát triển bền bỉ, lâu dài. Dụng thần vững chãi nên vận trình tiền bạc của ông không có quá nhiều nốt trầm. Về cơ bản tài sản của ông tăng dần theo thời gian, ông cũng bị ảnh hưởng bởi các cuộc khủng hoảng kinh tế như nhiều nhà đầu tư khác, trước các cuộc khủng hoảng thì đặc tính thận trọng của Ấn Kiêu trở thành nhược điểm khiến ông khó xoay chuyển tình thế mạnh mẽ, nhưng nhờ đặc tính của Tài tinh Đinh hỏa mà ông thường xoay chuyển khá ấn tượng. Tài tinh được chế, chế Tài là đoạt được Tài, ông bắt đầu

làm quen với kinh doanh từ khá sớm, từ 13 - 23 tuổi nhập vận Bính hỏa, đã tiết kiệm được một số tiền khá lớn so với 1 thanh niên trẻ tuổi. Cuối vận Đinh Hợi trở thành triệu phú đô la. Vận Kỷ Sửu, Tý Sửu hợp, cung thê bị hợp, vợ chồng ly thân. Vận Canh Dần trở thành tỷ phú. Vận Nhâm Thìn dù thành thủy cục nhưng ông vẫn phải chịu ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2007 - 2008 bởi dù là người giàu nhất thế giới thời điểm đấy thì ông cũng chỉ là một mắt xích trong chuỗi vận hành của ngành nghề ông tham gia, khi cả bộ máy đi xuống thì một bộ phận cũng không thể tiến lên được, tài sản của ông nhanh chóng phục hồi vào các năm sau. Thìn thổ cũng là đất mộ của thủy, nên trong vận đó cũng phát hiện một số vấn đề về sức khỏe.

Ví dụ 4: Steve Jobs Cũng là nguyệt lệnh Ấn Kiêu, dụng thần vượng tướng mà trụ giờ nghịch chiều Ất Mùi - Mậu Dần - Bính Thìn - Bính Tuất

Câu hỏi 1: + Địa chi nguyệt lệnh tàng những thập thần nào?

Thiên Ấn, Tỷ Kiên, Thực Thần

  • Thập thần nào là chủ khí? Thần nào ẩn tàng, thần nào thấu xuất ra?

Kiêu thần chủ khí, Chính Ấn thấu tại trụ năm, Thực Thần thấu tại trụ tháng, trụ giờ

Câu hỏi 2: + Từ chủ khí nguyệt lệnh có thể tạo thành các cách cục nào?

Chính Ấn cách, 2 Thực thấu ra cũng cần tham khảo cách cục Thực Thần phối Ấn

  • Nguyệt lệnh có hội hợp với can chi nào khác không? Có thể có biến cách nào không?

Có bán hội mộc, bán hợp hỏa, nhưng Thìn – Tuất xung nhau nên tính hợp yếu

Câu hỏi 3: + Chính Quan, Thất Sát có xuất hiện trong bát tự không? Chúng có phải là các can thấu có gốc không? Có được củng hợp ở địa chi không? Có xuất hiện ở trên can trụ giờ không?

Không

  • Có thể tạo thành Chính Quan, hoặc Thất Sát cách không?

Không

Câu hỏi 4: + Bát tự có phải tòng cách không?

Không

Câu hỏi 5: + Kết luận là cách cục gì?

Chính Ấn cách

  • Thập thần chủ đạo là cát thần hay hung thần?

Cát thần

  • Có bị khắc chế không? Có bị thái quá hay không? Có được sinh trợ nhiều không?

Không bị khắc, nhưng phải đi khắc Thực Thần nguy cơ thái quá, vì thấu 2 can mà có nhiều gốc tại địa chi. Được sinh trợ ít vì thủy không hiện trong bát tự.

  • Lấy thần nào làm dụng thần để xem?

Chính Ấn

Câu hỏi 6: + Xác định dụng thần động nhiều hay tĩnh nhiều? Nếu quá vượng, hội hợp củng cố quá nhiều không có đối thủ là tĩnh, nếu có đi sinh khắc, có bệnh, có thuốc thì động. + Hỏa trong mùa hè, thủy trong mùa đông có điều hậu hay không?

Động nhiều, bởi Ấn tinh vượng tướng, có bán hội, nhưng phải đi khắc nhiều, ngoài ra Thìn Tuất xung cũng làm khai khố thủy mộc tại trụ ngày, hỏa kim tại trụ giờ Không

Câu hỏi 7: + Để dụng thần được vận hành Cần Quan sinh Ấn, cần Tỷ Kiếp trôi chảy, chống lại khắc phá, có chế Tài hộ Ấn tính động ổn định thì cần các can chi nào? + Các can chi ấy ứng với những thập thần nào? - Hay là những can chi nào nằm trong nhóm dụng, hỷ thần?

Ấn kiêu, Chính Quan, Thiên Quan, tỷ kiên, Kiếp Tài

Câu hỏi số 8: + Dụng hỷ thần trong bát tự vận hành ngược chiều hay xuôi chiều? Trụ giờ có phải dụng, hỷ thần hay không?

Ngược chiều, bởi trụ giờ không hỗ trợ cho dụng thần, mà thổ nhiều

Kết luận: bát tự này có Ấn tinh là dụng thần mạnh mẽ, có Quan tinh Quý thủy được khai khố hộ Ấn, là những chỉ báo thành công, tuy nhiên trụ giờ ngược chiều phản khắc Ấn tinh dẫn đến hậu vận không tốt, nguyên cục chứa thông tin rủi ro sức khỏe, bởi Thực Thần cũng là thọ nguyên tinh, yếu tố ảnh hưởng tới sinh mệnh. Đây chính là 1 ví dụ cho thấy xu hướng mạnh có thể bị đứt gãy. Việc cho đi làm con nuôi ảnh hưởng thế nào tới mệnh cục? Một số sự tương đồng giữa bát tự S.Jobs và M.Monroe cho thấy một giả thuyết nếu trụ năm có ảnh hưởng xấu tới mệnh cục, đặc biệt là ảnh hưởng xấu đến Ấn tinh (Thiên Ấn và cả Chính Ấn) thì việc sống độc lập với cha mẹ ruột có thể mang lại những yếu tố tích cực cho mệnh cục. Ở nữ diễn viên người Mỹ thì chi năm Dần hình hại gốc Quan tinh ở Tỵ, ảnh hưởng xấu tới Ấn tinh Mậu trong đó, còn bát tự Jobs thì can năm dụng thần Ất tự mộ tại chi Mùi địa chi nó tọa trên đó, gọi là tự nhập mộ. Nhập Mộ mà không có xung khai, bán hợp, sinh trợ đủ mạnh thì cũng trở thành 1 yếu tố tiêu cực. Dù sao đây vẫn là giả thuyết cần được nghiệm chứng nhiều hơn. Ngoài ra cha đẻ của ông sinh ngày 15/3/1931 năm Tân Mùi tháng Tân Mão ngày Kỷ Tỵ, tuy không có đủ bát tự thì ta cũng hình dung có thể là tình huống bán hợp mộc cục dụng thần, cha nuôi sinh ngày 27/11/1922 năm Nhâm

Tuất, tháng Hợi, ngày Hợi thủy có thể hình dung thủy khí trong mệnh cha nuôi khá mạnh, bổ trợ cho dụng thần mộc của ông, mẹ nuôi sinh ngày 23 tháng 8 năm 1924, Giáp Tý, Nhâm Thân, Giáp Tuất cũng là tổ hợp hỗ trợ dụng thần của ông ta. Đó có thể là những lý do phù hợp để lý giải sự vượt trội của ông với những người sinh cùng ngày giờ. Tính cách: nói về tính cách của S.Jobs thì ta cần nhìn vào Thực Thương hơn là Ấn Kiêu, bởi Thực Thần thấu quá mạnh, tàng trong cả nguyệt lệnh, cho thấy con người ông có đặc điểm Thực Thương là chính, sau đó đến Tỷ Kiếp còn Ấn Kiêu là phụ. Người Thực Thương thì trọng cảm xúc, sống theo đuổi với những đam mê, Thực Thần thái quá cũng như Thương Quan vậy, cao ngạo, ích kỷ, thích sáng tạo ra cái mới, cộng thêm Tỷ Kiếp nữa thì họ hay tỏ ra mềm mỏng bên ngoài còn cực đoan ở bên trong. Cũng nhờ có Ấn Kiêu kiềm chế mà những điều tiêu cực của Thực Thương không đi quá xa, giữ được một số kỷ luật nhất định. Thực Thương ở trụ giờ còn là con cái, thân vượng, Ấn vượng, Thực lại phản khắc Ấn cũng thấy ở một số trường hợp khác có con ngoài giá thú, trốn tránh trách nhiệm. Thực Thương là thần hoài bão, mơ mộng, rất thông minh, nhiều ý tưởng, có Ấn điều chỉnh giúp xây dựng cơ sở vững vàng để thực hiện hoài bão ấy. Hôn nhân: chi ngày hỗ trợ cho dụng thần nên có thể nói có cung vợ tốt đẹp, Tuất xung Thìn gây ra nhiều trắc trở trong tình cảm nhưng có nguyệt lệnh dần điều chỉnh nên cuối cùng vẫn có kết cục tốt. Hành vận: Ngày bé vận Đinh Sửu, hỏa thổ mạnh, may mà Sửu thổ là thấp thổ, xung khởi Ấn Kiêu trong Mùi thổ, nên học hành tốt, học vượt 1 năm so với bạn bè, tuy nhiên

Thực Thương mạnh nên kết quả cũng không quá xuất sắc, tâm lý bất ổn, khó hòa đồng, tài nhiều mà tật cũng nhiều. 1971 - 1981 vận Bính Tý, đầu vận Bính hỏa mạnh, sinh Thực Thương, Tý là Chính Quan, Thực Thương gặp Chính Quan thì bị khắc hại, bỏ học, có thời kỳ sống lang thang, đi đó đây trải nghiệm, chưa có chí hướng, đến những năm Dần, Mão mộc dần dần có lực thì tìm được việc, bắt đầu khởi nghiệp lập trình, năm Giáp Thìn 1976 thành lập Apple, Giáp mộc, Tý Thìn bán hội thủy. Vận này cũng là thời điểm phát sinh bê bối vì không nhận con gái. Nói chung vận Tý thủy là thời kỳ ông bắt đầu thành công trong sự nghiệp. 1981 - 1991, đầu vận Ất mộc, Ất chiếm phần chính, hỗ trợ bởi thủy chưa nhiều, mộc đơn độc khắc thổ dễ bị tổn thương, nên ông có những giai đoạn khó khăn, nhưng về sau khi Hợi thủy dần thể hiện thì lại thuận lợi. 1991 - 2001, vận Giáp Tuất, Tuất thổ đóng vai trò xung Thìn, hình Mùi giúp mộc được khai khố lưu thông, trở lại Apple và bắt đầu kỷ nguyên thành công rực rỡ. Nhưng Tuất cũng hỗ trợ Mậu, đây có lẽ là tiền đề cho những vấn đề ông gặp phải trong vận tiếp theo. 2001 - 2011 vận Quý Dậu, Dậu là Tài tinh khắc Ấn tinh Dần mộc, còn Quý là Chính Quan, tuy nhiên Quý khác với Hợi, Tý ở chỗ Quý là thiên can, vì thế sự hợp phá của 2 can Thực Thần là Mậu trở nên nghiêm trọng. Năm Quý Mùi 2003 phát hiện ung thư, 2004 điều trị, 2006 lại tái phát. 2011 qua đời.

Ví dụ 5: Oprah Winfrey 29/1/1954 giờ Dần Quý Tỵ - Ất Sửu - Ất Dậu - Mậu Dần

Câu hỏi 1: + Địa chi nguyệt lệnh tàng những thập thần nào?

Sửu tàng Kỷ - Tân – Quý, Tài – Sát - Ấn

  • Thập thần nào là chủ khí? Thần nào ẩn tàng, thần nào thấu xuất ra?

Kỷ thổ, Tài tinh, trụ giờ có Chính Tài Mậu dẫn xuất Kỷ thổ thấu ra, tam hợp kim cục dẫn xuất Thất Sát tân kim. Ấn tinh Quý thủy trụ năm thấu ra.

Câu hỏi 2: + Từ chủ khí nguyệt lệnh có thể tạo thành các cách cục nào?

Tài tinh

  • Nguyệt lệnh có hội hợp với can chi nào khác không? Có thể có biến cách nào không?

Tam hợp kim cục – Thất Sát, có thể kiêm xem Thất Sát cách

Câu hỏi 3: + Chính Quan, Thất Sát có xuất hiện trong bát tự không? Chúng có phải là các can thấu có gốc không? Có được củng hợp ở địa chi không? Có xuất hiện ở trên can trụ giờ không?

Có, tàng trong tam hợp Tỵ Dậu Sửu. Không thấu, không có ở trụ giờ.

  • Có thể tạo thành Chính Quan, hoặc Thất Sát cách không?

Có thể

Câu hỏi 4: + Bát tự có phải tòng cách không?

Không vì thiên can có Quý thủy, Ất mộc, địa chi có Dần làm gốc

Câu hỏi 5: + Kết luận là cách cục gì?

Cơ bản là Tài cách, Tài sinh Sát, Sát có Ấn thành Thiên Quan.

  • Thập thần chủ đạo là cát thần hay hung thần?

Tài tinh và Thất Sát

  • Có bị khắc chế không? Có bị thái quá hay không? Có được sinh trợ nhiều không? + Lấy thần nào làm dụng thần để xem?

Tài bị Tỷ Kiếp thấu khắc, không thái quá, được sinh trợ. Cả Tài tinh và Thiên Quan (Thất Sát)

Câu hỏi 6: + Xác định dụng thần động nhiều hay tĩnh nhiều? Nếu quá vượng, hội hợp củng cố quá nhiều không có đối thủ là tĩnh, nếu có đi sinh khắc, có bệnh, có thuốc thì động.

Dụng thần động nhiều, bởi Tài bị Tỷ Kiên Ất mộc khắc, có Sát tam hợp bảo vệ, nên cũng coi là có bệnh có thuốc.

  • Hỏa trong mùa hè, thủy trong mùa đông có điều hậu hay không?

Có điều hậu từ chi năm Tỵ hỏa và chi Dần tàng Bính hỏa

Câu hỏi 7: + Để dụng thần được vận hành trôi chảy, chống lại khắc phá, có tính động ổn định thì cần các can chi nào?

Tài Sát thành 1 khối, hỷ Ấn Quý thủy hóa Sát thành Thiên Quan, (xem cách cục Thất Sát). Kỵ thần: Tỷ Kiếp, Thương Quan.

  • Các can chi ấy ứng với những thập thần nào? - Hay là những can chi nào nằm trong nhóm dụng, hỷ thần?

Tài tinh, Thất Sát - Thiên Quan là dụng thần. Thực Thương có 2 mặt tốt và xấu. Ấn kiêu cũng có thể coi là hỷ thần.

Câu hỏi số 8: + Dụng hỷ thần trong bát tự vận hành ngược chiều hay xuôi chiều? Trụ giờ có phải dụng, hỷ thần hay không?

Trụ giờ Mậu Dần, có Mậu thổ, trong Dần cũng tàng thổ, Dần tuy là kỵ thần nhưng bị khắc chế phần lớn, nên đa phần trụ giờ có ảnh hưởng tốt, tuy nhiên do Quý, Ất thủy mộc cùng thấu tương trợ Dần mộc, nên Dần trở thành Kỵ thần không được chế khử hoàn toàn. Đa phần là xuôi chiều nhưng vẫn kèm kỵ thần.

Kết luận: bát tự dụng thần Tài Sát thổ kim, thổ kim có tam hợp, có can Mậu thấu trụ giờ thông căn trụ tháng gọi là thời thượng Chính Tài cách, là 1 cách tốt, dụng thần có lực mạnh mẽ phân bố cả ở 4 trụ, tuy nhiên kỵ thần mộc cũng rất mạnh, trong tốt có xấu. Mộc tại trụ giờ tàng Thương Quan kỵ thần có thể biểu hiện việc con cái khó khăn. Dụng thần mạnh mẽ, Tài tinh chỉ thấu 1 mà có nhiều gốc, là tổ hợp đẹp của Tài, phù hợp với sự nghiệp thành công, tiền tài vững chắc. Chi ngày có Sát là dụng thần vốn thể hiện hôn nhân tốt, tuy nhiên cung hôn nhân có tam hợp quá chặt lại thường là thông tin không hoàn hảo về hôn nhân. Tính cách: Tài Sát là những người thực tế, rất coi trọng hành động, nhạy bén về tiền bạc, Thất Sát chủ sự quyết đoán, dám làm, thích thử thách, tò mò, huớng ngoại, nhưng Tỷ Kiếp khá mạnh không hoàn toàn chế hết nên có thể là người tự lập nhưng thâm tâm thường cảm thấy cô độc,

cô đơn, ghen tị, thua thiệt hay vướng vào những thị phi, tranh cãi. Ấn tinh hóa Sát sinh thân nên có năng lực học tập, lý luận tốt. Thất Sát còn chủ có năng lực ảnh hưởng lớn. Hành vận: Thời thơ ấu 2 tuổi nhập vận Bính Dần, 12 tuổi vận Đinh, mộc hỏa mạnh, Bính, Đinh ở thiên can tương khắc với Quý thủy, Sát tinh không còn có chế đủ mạnh nên khắc thân, cuộc sống khó khăn về cả tài chính lẫn tinh thần, gặp nhiều biến cố, bị xâm hại, mẹ bà sinh khi chưa đủ thành niên, lúc ở với cha lúc ở với mẹ. 17 tuổi Mão vận xung khởi Dậu, sớm có duyên với nghiệp truyền thông. Từ năm 1976 nhập vận Mậu Thìn, Tài tuy là dụng thần nhưng ở can thì cũng không thực sự đẹp (xem phần luận Hành vận). Vận Thìn trở đi tốt hơn, các vận Kỷ Tỵ, Canh Ngọ tuy có hỏa nhưng nhìn về địa chi mà xét thì kim được thổ dày, hỏa khó làm hại kim được. Mà điều phiền toái trong các vận đó đến từ sự xuất hiện của các can Chính Quan, Thất Sát có thể tạo thành Quan Sát hỗn tạp hoặc Sát mạnh thái quá vừa khiến sự nghiệp tốt nhưng lại gặp một số rắc rối pháp lý, thị phi nhất định. Vận thủy mà không có mộc thì cũng không phải vận xấu với bà.

Ví dụ 6: Richard Branson sinh 18/7/1950 7h sáng Mão (chính Ngọ 13h địa phương) Canh Dần - Quý Mùi - Giáp Dần - Đinh Mão

Câu hỏi 1: + Địa chi nguyệt lệnh tàng những thập thần nào?

Tài tinh, Thực Thần, Kiếp Tài

  • Thập thần nào là chủ khí? Thần nào ẩn tàng, thần nào thấu xuất ra?

Tài tinh chủ khí, Thực Thần thấu xuất

Câu hỏi 2: + Từ chủ khí nguyệt lệnh có thể tạo thành các cách cục nào?

Chính Tài cách, Tài được Thực sinh

  • Nguyệt lệnh có hội hợp với can chi nào khác không? Có thể có biến cách nào không?

Bán hợp mộc cục với Mão tại trụ giờ. Nhưng mộc ngoài Nhật chủ ra thì không thấu can Tỷ Kiếp, thấu Thực Thần sinh Tài, nên vẫn là cách Tài được Thực sinh.

Câu hỏi 3: + Chính Quan, Thất Sát có xuất hiện trong bát tự không? Chúng có phải là các can thấu có gốc không? Có được củng hợp ở địa chi không? Có xuất hiện ở trên can trụ giờ không?

Thất Sát trụ năm hư thấu

  • Có thể tạo thành Chính Quan, hoặc Thất Sát cách không?

Không

Câu hỏi 4: + Bát tự có phải tòng cách không?

Không

Câu hỏi 5: + Kết luận là cách cục gì?

Chính Tài cách, Tài được Thực sinh. Thực ra nguyệt lệnh Tài tinh có Thất Sát thì cũng có thể luận theo hướng Tài sinh Sát, tuy nhiên Sát tại trụ năm không có gốc, Tài là táo thổ sinh kim hạn chế nên xác lập các Tài được Thực sinh sẽ hợp lý hơn.

  • Thập thần chủ đạo là cát thần hay hung thần?

Cát thần, cần được bảo vệ

  • Có bị khắc chế không? Có bị thái quá hay không? Có được sinh trợ nhiều không?

Bị khắc mạnh tại địa chi. Không thái quá. Được sinh trợ bởi can Đinh hỏa Thực Thần trụ giờ, đơn thấu nhiều căn.

  • Lấy thần nào làm dụng thần để xem?

Tài tinh

Câu hỏi 6:

Dụng thần bị động rất mạnh bởi tại địa chi bị 1 Dần, 2 Mão cùng hành mộc khắc mạnh, Mão Mùi bán hợp nhập vào khắc thổ. Nhưng bù lại mộc không thấu ở thiên can, Đinh hỏa trụ giờ có gốc tại Dần Mùi được lệnh khắc hóa mộc sinh thổ, nên đây là dạng dụng thần bệnh nặng mà vẫn có thuốc phù hợp.

  • Xác định dụng thần động nhiều hay tĩnh nhiều? Nếu quá vượng, hội hợp củng cố quá nhiều không có đối thủ là tĩnh, nếu có đi sinh khắc, có bệnh, có thuốc thì động. + Hỏa trong mùa hè, thủy trong mùa đông có điều hậu hay không?

Cần thủy điều hậu mức độ nhẹ

Câu hỏi 7: + Để dụng thần được vận hành Cần Thực Thương hỏa sinh Tài trôi chảy, chống lại khắc phá, có thổ, Sát kim khắc Tỷ Kiếp mộc, tính động ổn định thì cần các can thủy điều hậu. chi nào? + Các can chi ấy ứng với những thập thần nào? - Hay là những can chi nào nằm trong nhóm dụng, hỷ thần?

Thực Thương, Thất Sát, Ấn Kiêu

Câu hỏi số 8: + Dụng hỷ thần trong bát tự vận hành ngược chiều hay xuôi chiều? Trụ giờ có phải dụng, hỷ thần hay không?

Thuận chiều bởi trụ giờ là Thực Thần sinh Tài

Kết luận: Đây là một mệnh lý có nhiều biến động trong can chi, dụng thần bị đe doạ nghiêm trọng nhưng cũng được ứng cứu, phe ứng cứu mạnh mẽ hơn. Phù hợp với 1 con người rất năng động, và liều lĩnh. Thực Thần là thần có hoài bão mạnh mẽ, đầy mơ mộng, Tài được Thực sinh chính là khả năng đưa ra giải pháp, năng lực thực hiện tham vọng. Thực Thần chỉ thấu 1 can, có căn tại nhiều trụ, đặc biệt tại trụ tháng mà thành tổ hợp rất đẹp, nhờ đó bát tự thể hiện mệnh lý có cơ hội thành công lớn trong kinh thương. Cung hôn nhân của ông không quá tốt, khi chi ngày Dần thì kỵ thần mộc là chủ khí nhưng vẫn có gốc của Đinh hỏa, nên cũng có thể đánh giá không quá xấu, ông có 2 đời vợ nhưng tôi nghĩ không nên đánh giá mức độ tốt xấu của người phương Tây theo chuẩn phương Đông.

Tính cách: điểm nổi bật trong tính cách là Thực Thần Đinh hỏa, thông minh, phá cách, nhiều tư tưởng độc đáo, thứ hai là Tài tinh, nhạy bén, giỏi đưa ra các giải pháp thực tế, thứ ba là Tỷ Kiếp kỵ thần có hóa giải, thích thể hiện, tự tin, Thực Thần cũng là nhóm thích được chú ý, càng tăng tính tự tin thể hiện bản thân, gây sự chú ý của ông. Thực Thần đầy ắp ý tưởng, hoài bão và có phần phi thực tế, còn Tỷ Kiếp là thần rất tự tin, nhiệt tình, hăng say. Có thể nói Thực phối Tỷ Kiếp là tay nghiện cảm xúc, phần nào đó như một đứa trẻ mới lớn, mạnh mẽ khi tìm được lý tưởng nhưng cũng có thể nhanh chóng tỏ ra yếu đuối nếu cạn kiệt năng lượng. Đó cũng là điều có thể lý giải việc ông háo hức lao vào các dự án mới bất chấp việc gặp những khó khăn trước mắt. Mẹ ông sinh năm Giáp Tý, tháng Tân Mùi ngày Nhâm Thìn, kim mộc tranh chấp nên không có thông tin giờ sinh chưa kết luận được đầy đủ cộng hưởng tích cực từ mệnh lý, điểm cộng là Mùi, Thìn cũng đóng vai trò hỗ trợ thổ. Hành vận: 7 - 17 tuổi vận Giáp Thân, Giáp hành mộc thấu xuất mộc trong địa chi, Giáp lại hợp Kỷ trong Mùi nên không thể coi là 1 vận tốt được, tuổi nhỏ gặp nhiều vấn đề ở trường học, mắc chứng khó đọc, Thân kim vốn là gốc của Thất Sát, nên ông có thể nói là khởi nghiệp sớm bằng tạp chí riêng của mình, tuy nhiên 2 Dần trong mệnh cục xung Thân nên ông cũng kết thúc sớm quá trình học. Từ 17 - 27 tuổi vận Ất Dậu, Ất mộc vốn là kỵ thần được chế hóa chưa hoàn toàn nên giai đoạn 17 - 22 chưa thực sự tốt, năm 20 tuổi Thất Sát Canh xuất hiện bị Ất hợp chế bị

phạt vì gian lận thương mại một số tiền rất lớn so với ông thời bấy giờ. Năm 1972 bắt đầu mở hãng thu âm Virgin Record, bắt đầu giai đoạn thành công mới. 1987 - 1997 vận Đinh Hợi hỏa là dụng thần, nguyên cục hỏa được gốc dày lại có mộc sinh nên vốn không quá ngại thủy, có điều trong Hợi tàng Nhâm, Đinh Nhâm hợp chế Đinh hỏa, mà Thực Thần chủ tinh thần nên giai đoạn này có những thời gian cảm xúc tinh thần không thực sự tốt. Một số khoản đầu tư không mang lại hiệu quả. Nhưng xét về mặt tổng quan thì cũng không phải vận quá xấu. 1997 - 2007 vận Mậu Tý thổ được thấu xuất dụng thần có lực là tốt, Mậu Quý hợp nên cũng có một số vấn đề nhỏ trong kinh doanh. Tổng quan thì vẫn tăng trưởng. 2007 - 2017 vận Kỷ Sửu, thổ vẫn có lực, Sửu xung Mùi không đáng ngại bởi Mùi còn bán hợp Mão, cơ bản vẫn là vận tốt. 2017 - 2027 vận Canh Dần, Dần là kỵ thần khắc trực tiếp đến nguyệt lệnh cộng thêm ảnh hưởng bởi dịch trên toàn thế giới nên khó khăn, tuy nhiên Dần vẫn là gốc của hỏa nên có lẽ ông vẫn sẽ vượt qua được.

Ví dụ 7: Barack Obama, 4/8/1961 - giờ Dậu Tân Sửu - Ất Mùi - Kỷ Tỵ - Quý Dậu

Câu hỏi 1: + Địa chi nguyệt lệnh tàng những thập thần nào?

Tỷ Kiên – Kiêu Thần – Thất Sát

  • Thập thần nào là chủ khí? Thần nào ẩn tàng, thần nào thấu xuất ra?

Tỷ Kiếp chủ khí không thấu, Thất Sát thấu ra

Câu hỏi 2: + Từ chủ khí nguyệt lệnh có thể tạo thành các cách cục nào?

Tỷ Kiếp cách

  • Nguyệt lệnh có hội hợp với can Bán hội hỏa. Nguyệt lệnh Mùi thổ chi nào khác không? Có thể có cũng có thể xác định theo cách biến cách nào không? cục Ấn Kiêu Câu hỏi 3: + Chính Quan, Thất Sát có xuất hiện trong bát tự không? Chúng có phải là các can thấu có gốc không? Có được củng hợp ở địa chi không? Có xuất hiện ở trên can trụ giờ không?

Thất Sát trụ tháng thông căn nguyệt lệnh. Thực ra trong hoàn cảnh này thì Tỷ Kiếp dụng Sát hay Thất Sát cách thì cơ bản cũng giống nhau.

  • Có thể tạo thành Chính Quan, hoặc Thất Sát cách không?

Có thể

Câu hỏi 4: + Bát tự có phải tòng cách không?

Không

Câu hỏi 5: + Kết luận là cách cục gì? + Thập thần chủ đạo là cát thần hay hung thần?

Tỷ Kiếp hoặc Thất Sát Tỷ Kiếp là 1 dạng hung thần cần chế hóa

  • Có bị khắc chế không? Có bị thái quá hay không? Có được sinh trợ nhiều không?

Tỷ Kiếp được Tỵ hỏa sinh trợ, không thái quá, có thể dùng Thất Sát khắc chế, bởi Sát tuy là hung thần nhưng trong mệnh có Ấn tinh Tỵ hỏa, hội với Mùi nguyệt lệnh hóa Sát làm cát thần hay còn gọi là Thiên Quan.

  • Lấy thần nào làm dụng thần để xem?

Câu hỏi 6: + Xác định dụng thần động nhiều hay tĩnh nhiều? Nếu quá vượng, hội hợp củng cố quá nhiều không có đối thủ là tĩnh, nếu có đi sinh khắc, có bệnh, có thuốc thì động.

Dụng thần động nhiều. Bởi Ất tọa Mùi tuy là mộ nhưng có Sửu xung Mùi kích khởi, Ất bị Tân kim đứng cạnh khắc chế

  • Hỏa trong mùa hè, thủy trong mùa đông có điều hậu hay không?

Có cần điều hậu nhưng không cần nhiều bởi mệnh cục có bán hội kim, sinh thủy thấu trụ giờ, trụ năm Tân Sửu tàng kim, thấp thổ, thủy cũng có tính điều hậu

Câu hỏi 7: + Để dụng thần được vận hành Cần Sát, các địa chi Quan, Sát. trôi chảy, chống lại khắc phá, có Tài tinh sinh Sát. tính động ổn định thì cần các can chi nào? + Các can chi ấy ứng với những thập thần nào? - Hay là những can chi nào nằm trong nhóm dụng, hỷ thần?

Tài, Sát (địa chi)

Câu hỏi số 8: + Dụng hỷ thần trong bát tự vận hành ngược chiều hay xuôi chiều? Trụ giờ có phải dụng, hỷ thần hay không?

Thuận chiều, bởi trụ giờ có can Quý thủy sinh mộc. Trụ giờ là hỷ thần.

Kết luận: dụng thần Thất Sát có lực, được khai khố, thông căn nguyệt lệnh, bị trụ năm khắc nhưng được trụ giờ tương sinh, có bệnh có thuốc, tốt. Thất Sát có chế hóa là sao quyền lực, được động khởi, có Ấn tàng bên dưới bán hội, rất hợp với chính trị. Can năm Tân kim thấu ra là kỵ thần, cung cha không được tốt. Chi ngày Ấn tinh hóa Sát sinh thân, cát thần, hôn nhân cơ bản tốt. Vợ sinh ngày 17/1/1964: Quý Mão - Ất Sửu - Ất Sửu, thủy mộc vượng tướng bổ trợ cho dụng thần một cách hoàn hảo không có gì để chê cả. Ngoại cục hỗ trợ hay cản trở dụng thần? Mẹ ông sinh

ngày 29/11/1942 năm Nhâm Ngọ - tháng Tân Hợi - Bính Tuất, Nhâm thủy thấu ra đóng vai trò sinh trợ dụng thần. Cung cha kỵ thần, cha mẹ ly hôn sớm, sau đó chỉ gặp cha ruột 1 lần, cha mất năm 1981, năm Tân Dậu kỵ thần ngôi cha phát tác. Tính cách: yếu tố chính của tính cách mệnh này là Ấn Kiêu, rồi đến Thất Sát, Tài tinh. Cụ thể xem phần tính cách. Tính cách bên trong là Ấn Kiêu phối hợp Tỷ Kiếp, Thất Sát, điềm đạm nhưng nhiều tham vọng, bên ngoài là Sát được Thực chế, Tài sinh, có sự hoạt bát, nhạy cảm của Thực Thương, điềm tĩnh của Sát Ấn. Tổng quan lại bên trong là sự điềm tĩnh của Sát Ấn, bên ngoài là sự nhạy cảm của Thực Thần. Về hành vận không có quá nhiều điểm đặc biệt đáng nói, trụ năm là Tân kim khắc dụng thần nhưng lại có xung khởi dụng thần, vừa hỷ vừa kỵ, nên đầu đời bình thường, các đại vận cũng không phá hoại gì nghiêm trọng đến cách cục, tuổi trẻ gặp vận Quý Tỵ, Nhâm Thìn đều tạm coi là bình ổn, thuận lợi nhỏ, các vận Tân Mão, Canh Dần mộc tiếp gốc cho thiên can, sự nghiệp thuận lợi, đắc cử tổng thống.

Ví dụ 8: Công nương xứ Wales Diana Sinh ngày 1/7/1961, 19h45’ giờ mùa hè tại Anh (cộng thêm 1h so với giờ thực), tương đương với 18h45’ giờ Dậu. (Sang mùa hè chính quyền điều chỉnh tăng 1h so với giờ thực tế để người dân điều chỉnh sinh hoạt tận dụng tối đa ánh sáng mặt trời, cần hiểu múi giờ chính quyền địa phương chọn, hay do con người cố ý điều chỉnh không hoàn toàn đúng giờ Mặt trời thực tế). Bát tự: Tân Sửu - Giáp Ngọ - Ất Mùi - Ất Dậu

Câu hỏi 1: + Địa chi nguyệt lệnh tàng những thập thần nào?

Thực Thần Đinh hỏa, Thiên Tài Kỷ thổ

  • Thập thần nào là chủ khí? Thần nào ẩn tàng, thần nào thấu xuất ra?

Đinh hỏa, không thần nào thấu ra

Câu hỏi 2: + Từ chủ khí nguyệt lệnh có thể tạo thành các cách cục nào?

Thực Thần

  • Nguyệt lệnh có hội hợp với can chi nào khác không? Có thể có biến cách nào không?

Nhị hợp với Mùi, không biến cách

Câu hỏi 3: + Chính Quan, Thất Sát có xuất hiện trong bát tự không? Chúng có phải là các can thấu có gốc không? Có được củng hợp ở địa chi không? Có xuất hiện ở trên can trụ giờ không?

Có Thất Sát xuất hiện tại can năm và trụ giờ. Nhưng Sửu Dậu tuy bán hợp nhưng ở cách xa còn bị cản trở xung phá không bán hợp được với nhau

  • Có thể tạo thành Chính Quan, hoặc Thất Sát cách không?

Có thể

Câu hỏi 4: + Bát tự có phải tòng cách không?

Không

Câu hỏi 5: + Kết luận là cách cục gì?

Thực Thần dụng Sát hay Thất Sát cách cũng đều dụng Sát.

  • Thập thần chủ đạo là cát thần hay hung thần?

Thực Thần không phân rõ cát hung, Thực Thần sinh Tài, Tài sinh Sát, thì lấy Sát không quá vượng làm dụng thần, Thực Thần trở thành hung thần

  • Có bị khắc chế không? Có bị thái quá hay không? Có được sinh trợ nhiều không?

Thực Thần Đinh hỏa không bị khắc, có Tài tinh chuyển hóa Thực sinh Sát

  • Lấy thần nào làm dụng thần để xem? Câu hỏi 6: + Xác định dụng thần động nhiều hay tĩnh nhiều? Nếu quá vượng, hội hợp củng cố quá nhiều không có đối thủ là tĩnh, nếu có đi sinh khắc, có bệnh, có thuốc thì động.

Dụng thần động mạnh, Tân kim tọa trên Sửu, Sửu bị Mùi xung, Ngọ Mùi hợp giảm xung nhưng lại củng cố hỏa và táo thổ làm yếu kim, hỏa táo thổ làm bệnh, bát tự thiếu thủy, có bệnh nhưng không có thuốc.

  • Hỏa trong mùa hè, thủy trong mùa đông có điều hậu hay không?

Cần kim thủy điều hậu, nhưng thủy không đáng kể.

Câu hỏi 7: + Để dụng thần được vận hành Cần Thất Sát – Thiên Quan, cần trôi chảy, chống lại khắc phá, có Ấn Kiêu chế bớt Thực hộ Sát, cần tính động ổn định thì cần các can Tài hóa Thực Thương sinh Sát chi nào? + Các can chi ấy ứng với những thập thần nào? - Hay là những can chi nào nằm trong nhóm dụng, hỷ thần?

Thất Sát, Tài tinh, Ấn Kiêu, tuy nhiên Tài tinh nên là thấp thổ, Sửu Thìn, chứ không nên gặp táo thổ Mùi, Tuất tàng Thực khắc Sát.

Câu hỏi số 8:

Ngược chiều, bởi tuy Dậu là Thiên Quan nhưng bị táo thổ và hỏa khống chế, Tân Sửu cùng Dậu cũng xa cách không hỗ trợ nhau được, can giờ Tỷ Kiên Ất mộc khắc Tài, chống Quan, Sát.

  • Dụng hỷ thần trong bát tự vận hành ngược chiều hay xuôi chiều? Trụ giờ có phải dụng, hỷ thần hay không?

Kết luận: Mệnh trước tốt sau xấu, bởi Thực Thần cách có Tài hóa Thực sinh Sát, tuy nhiên, tuy là thổ nhưng hầu hết lại là táo thổ sinh kim hạn chế, chi Sửu gốc Sát bị xung phá trụ giờ lại ngược chiều, có nhiều thông số thể hiện nguy cơ xấu. Hôn nhân: chi ngày Mùi thổ, vốn là Tài làm dụng thần, nữ luận hôn nhân ngoài xem chi ngày còn xem Quan Sát, Quan không có, Thất Sát làm dụng thần cũng như Chính Quan vốn là tốt, chi ngày Mùi chủ khí là Kỷ thổ Tài tinh có thể chuyển hóa Thực sinh Tài, tuy nhiên chi Mùi lại là táo thổ, tàng hỏa, mộc sinh kim hạn chế, hỗ trợ Ất mộc Tỷ Kiếp phá Tài Quan, nên có thể nói là 4 phần tốt mà 6 phần

là xấu. Mùi tàng Ất mộc Tỷ Kiếp thấu can giờ là tượng bị tranh đoạt trong hôn nhân. Cha bà, Edward John Spencer sinh 24 tháng 1 năm

có thể nhìn qua thông số ngũ hành ngày sinh là năm

Quý Hợi, tháng Ất Sửu, ngày Nhâm Dần, thành phần chính là thủy, mộc đan xen, thủy thì tốt mà mộc thì không tốt, lệnh tháng Sửu thổ, nên cũng là tốt chiếm phần nhiều hơn một chút. Can năm là dụng thần, ảnh hưởng của cha rất lớn. Mẹ bà, Frances Roches, sinh ngày 20 tháng 1 năm 1936, nhìn qua thông số can chi ngày sinh: Ất Hợi, Kỷ Sửu, Tân Sửu, Ất Hợi mộc mạnh, Kỷ Sửu, Tân Mùi kim mạnh, thì cũng đan xen tốt nhiều hơn nhưng phần xấu cũng không yếu. Chi năm là dụng thần gặp xung, hại, có vấn đề xấu ở cung mẹ. Nhìn chung sự hỗ trợ của mệnh lý cha mẹ với bà là có cả tốt và xấu, trong đó phần tốt có vẻ ưu thế hơn, nhưng phần xấu cũng rất mạnh. Không đủ để xoay chuyển mệnh cục từ không tốt thành thực sự tốt. Tính cách: bên trong là Thực Thương, Tài Tinh, bên ngoài là Tỷ Kiếp, Thất Sát, nhưng do Thất Sát là dụng thần, nên ảnh hưởng của Thất Sát rất lớn. Hành vận: Thời thơ ấu, vận Ất Mùi, thiên khắc địa xung với trụ năm Tân Sửu, thời thơ ấu không hạnh phúc, cha mẹ ly dị, quan hệ không tốt với mẹ kế. 1973 - 1983 vận Bính Thân, đầu vận Bính hỏa khắc Tân kim, tìm cách sống tự lập, công việc vất vả, thu nhập thấp, vận Thân kim có lực, được Sửu, Dậu tương trợ, kết hôn với Thái tử Charles, sinh con trai.

1983 - 1993 vận Đinh Dậu, Dậu tuy là dụng thần nhưng vốn không được bảo vệ, can đại vận là Đinh hỏa khắc kim thể hiện là vận không tốt, những năm đầu có Tý, Sửu là thủy, thấp thổ góp phần chế ngự hỏa chưa phát tác mạnh, kim được bảo vệ, sinh con trai thứ 2, tuy các vấn đề trong hôn xấu nhưng vẫn còn âm ỉ, nhưng dần dần các mâu thuẫn trong gia đạo càng lớn. 1986, 1987 Bính Dần, Đinh Mão hỏa mạnh, các vấn đề đời tư bị truyền thông chú ý tới, và dần phát sinh những sự kiện tiêu cực như mối quan hệ ngoài hôn nhân của cả bà và chồng bà. 1993 - 1997 vận Mậu Tuất, Tuất Sửu Mùi xuất hiện đủ tam hình, Mùi ngả hẳn về phe hỏa, Sửu không còn đủ lực để sinh kim nữa, đầu vận Mậu thổ là chính khí, được tự do sau ly hôn, nhận được một khoản tiền lớn, tự do tìm tình yêu mới. Tuy nhiên năm Đinh Sửu, Đinh hỏa thấu ra, kết hợp với việc Mùi Tuất Sửu tam hình không hỗ trợ Tân và Dậu kim nữa, nên Đinh vào khắc Tân, Ngọ khắc Dậu, dụng thần bị vây hãm, triệt tiêu, mất sau một vụ tai nạn.

Phụ lục — Một số kiến thức cơ bản

Rất nhiều kiến thức căn bản của huyền học có những cách giải thích mâu thuẫn, chúng ta không có đủ cơ sở tài liệu để khẳng định cách lý giải nào là tuyệt đối chính xác, nhưng chúng ta có thể tìm kiếm cách giải thích có logic và thoả mãn nhiều vấn đề trong lý thuyết hơn và có tính ứng dụng thực tiễn cao hơn.

Âm dương

Một cách định nghĩa khác về âm dương

Âm dương giống như phạm trù triết học về các mặt mâu thuẫn và thống nhất. Là các phạm trù triết học thể hiện các tính chất của vạn vật, cũng như trong tất cả các hệ thống. Trong 1 cặp mâu thuẫn và thống nhất đó thì mặt nào có tính động lớn hơn, có tính chủ động hơn được coi là có tính dương, mặt còn lại có tính âm. Âm dương nên được hiểu như một cặp tính từ, trạng từ hơn là các danh từ thể hiện các đối tượng không xác định. Vì thế, trong mọi hệ thống, trong mọi mối quan hệ, trong mọi tổ chức, trong mọi cá thể đều có những mặt âm dương, thậm chí trong mỗi mặt âm dương cũng lại có những tính chất âm dương như những mô hình fractal trong toán học, mỗi một thể được tách ra thành từng phần, mà mỗi phần giống như 1 tổng thể với độ thu phóng nhỏ hơn.

Nhiều người thường cứng nhắc khi hiểu về âm - dương, nên thường có những cách hiểu thiếu logic, và máy móc về âm - dương. Ví dụ mọi người thường dễ hiểu khi âm dương được sử dụng để phân định trong các tình huống cơ bản, phổ thông như nam giới - dương, nữ giới - âm, chồng - dương, vợ - âm, sếp là dương, nhân viên là âm. Dễ hiểu khi phân định sếp nam - dương, nhân viên nữ - âm, nhưng lại dễ băn khoăn khi thấy sếp nữ - dương, nhân viên nam - âm (trong công việc thì chỉ xét theo năng lực chứ không phân giới tính). Âm - dương có tính tương đối, tùy theo hoàn cảnh xét, phạm vi xét để phân định, ví dụ 1 người đứng trước 1 căn nhà rất lớn, thì người đó là âm, ngôi nhà là dương, nhưng nếu người đó làm công việc xây dựng, sửa chữa thì ngôi nhà là âm, người đó là dương. Tóm lại để hiểu tính âm dương cần phải xét trong một phạm vi cụ thể, chứ không phân định máy móc, cứng nhắc. Đầu tiên ta cần xét phạm vi, tiếp theo phân tách ra các nhóm thành phần, và dựa vào vai trò, nhiệm vụ của các nhóm để phân tính âm dương. Nhóm có nhiều động lực, chứa đựng nhiều năng lực, sức mạnh hơn là dương, nhóm còn lại là âm. Ví dụ để xét âm dương trong 1 tổ chức nhân sự, 1 công ty chẳng hạn, đầu tiên phân định 2 nhóm, 1 nhóm có tính quản lý, tổ chức, kiểm soát tạm gọi là nhóm cán bộ lãnh đạo, 1 nhóm có tính thực thi, chịu sự quản lý, nhóm công nhân viên. Nhóm cán bộ lãnh đạo là dương, nhóm công nhân viên là âm. Trong mỗi nhóm lại phân chia thành các nhóm tương tự,

lãnh đạo cao cấp ra quyết định quan trọng là dương trong dương, nhóm cán bộ hỗ trợ là âm trong dương, với nhóm công nhân viên thì cũng lại chia tương tự, nhóm đội trưởng, leader là dương trong âm, nhóm thành viên là âm trong âm. Giữa âm dương tùy theo tình huống lại có 1 nhóm trung gian nữa, trong kinh dịch sử dụng hệ thống 6 hào để mô phỏng các triết lý này, 6 hào có thể linh hoạt chia thành các tổ hợp mô hình có thể là 3 (1-1-1) - 3 (1-1-1) , 2 - 2 - 2 hoặc các mô hình khác.

Sự hỗ trợ và mâu thuẫn của âm dương

Dương trưởng, âm sinh, dương công, âm thủ. Trong một hệ thống, hai phần âm dương đóng góp cho sự vận hành và phát triển của hệ thống bằng những vai trò khác nhau, nhiệm vụ mỗi phần có thể hỗ trợ nhau, và nếu sự hỗ trợ này ổn định, trơn tru hệ thống hoạt động tốt, tuy nhiên đây là 2 nhiệm vụ đôi lúc có phần khác biệt, và tùy tình huống phải cần sự chia sẻ hỗ trợ nhau ở các mức độ khác nhau, nên giữa âm dương luôn có thể xuất hiện những mâu thuẫn. Ví dụ trong một đội bóng đá, thì cả đội bóng phải làm cả 2 nhiệm vụ là tấn công và phòng thủ, phòng thủ hỗ trợ tấn công, tấn công tốt ghi nhiều bàn thắng bù đắp cho những sai sót trong phòng thủ. Có những lúc đội phải ưu tiên phòng thủ và lực lượng tấn công phải chấp nhận hy sinh một phần nguồn lực, hoặc ngược lại, có những tình huống thủ môn cũng phải dâng lên tấn công chấp nhận các rủi ro trong phòng thủ. Đá với đội yếu hơn thì công thủ vận hành trơn tru, nhưng khi gặp đội mạnh hơn thì phải phân bố lại

lực lượng có thể dẫn đến những mâu thuẫn trong cách hoạt động, những cầu thủ tấn công muốn tấn công, trong khi cầu thủ phòng ngự muốn cả tiền đạo cũng phải hỗ trợ phòng ngự có thể tạo nên mâu thuẫn trong đội. Tóm lại đứng trên lý luận âm - dương một hệ thống hoàn thiện phải có sự hài hòa giữa âm và dương. Ở tình huống đơn giản thì sự cân bằng âm dương là dễ thấy, nhưng ở nhiều tình huống sự mất cân bằng âm dương lại là cần thiết để tạo sự cân bằng lớn hơn, hay sự mất cân bằng cục bộ cần thiết hơn, phù hợp hơn để thích nghi với hoàn cảnh.

Ngũ hành

Định nghĩa

Cũng giống như 12 địa chi, ngũ hành là hệ thống lý luận được xây dựng để mô tả, và ước lượng, suy đoán các trạng thái biến đổi của mặt đất trong quá trình vận hành xung quanh mặt trời. “Hành” về mặt từ ngữ là “đi bộ”, “vận hành”, “hành trình”, vậy cái gì đang “hành”? Là trái đất trong hành trình di chuyển theo quỹ đạo quanh mặt trời, là hành trình tự quay của chính trái đất, và cả hành trình di chuyển của cả hệ mặt trời trong vũ trụ. Với cách lý giải này chúng ta sẽ có thể hiểu được mối liên hệ giữa thời gian và không gian, thời khí, địa lý, và cả các tính chất khác mà ngũ hành thể hiện. Có nhiều người bám chấp vào danh từ kim, mộc, thủy, hỏa, thổ để hiểu ngũ hành. Điều đó giống thế này: có một người Việt Nam tên là Long, Long nghĩa là rồng, một loài thần thú trong truyền thuyết có thể bay, nhưng không có nghĩa anh chàng tên là Long đó có thể tự bay lên như con

rồng, anh ta muốn bay thì phải lên máy bay, phải nhảy dù, phải đi tàu lượn như mọi người tên không phải là Long khác. Chúng ta đều hiểu rằng Long chỉ là định danh, tên gọi để phân biệt con người này với con người khác, chứ không thể lấy tính chất của loài rồng trong truyền thuyết để tìm hiểu về con người tên là Long này. Kim, mộc, thủy, hỏa, thổ cũng thế, là những tên gọi dùng để phân định các hành với nhau, được mượn để định danh vì chúng có vài điểm tương đồng với tính chất ngũ hành, chứ không phải tính chất của sắt, gỗ, nước, lửa, đất trở thành tính chất của ngũ hành. Hiểu như thế không đúng bản chất, làm mất cái hay của lý luận ngũ hành. Như chuyện kim sinh thủy, có người giải thích đầy gượng ép, là sắt nóng chảy ra thành dạng lỏng, thế thủy ngân thì sao? Và những loại sắt nung chảy đó tưới lên cây có “sinh mộc” được không? Có người lại phản bác cách giải thích gượng ép ấy bằng cách giải thích gượng ép khác là mang Kinh Dịch vào, nói kim là quẻ Càn, Càn là trời, mưa từ trên trời xuống, nên đó là kim sinh thủy. Đây là cách giải thích hoàn toàn sai. Bởi trong Kinh Dịch thì hệ thống tám quẻ được tạo ra với mục đích không hoàn toàn giống ngũ hành, cho dù có 1 số tượng cơ bản của bát quái có tên giống ngũ hành như Ly hỏa, Khảm thủy, Khôn thổ. Nhưng Chấn là sấm, Tốn là gió, Chấn Tốn cũng quy về ngũ hành được, quy về hành mộc, cũng xuất hiện ở trên “trời”, sao không nói kim sinh mộc? Bát quái và ngũ hành tuy có một số điểm tương đồng nhưng hai hệ thống xét về nguyên thủy có những khác biệt.

Ngũ hành từ xưa đã được lý giải dưới dạng “thời khí”, các sách Tử Bình từ xưa cũng đã lý giải ngũ hành theo cách này. Thủy là tên được đặt cho trạng thái vận hành thời khí tại mùa đông, nên tên gọi chính xác là Hành Thủy, thủy chỉ là cách gọi tắt thôi. Nếu có những điểm nào tôi nhắc đến thủy thì nhiều khả năng đó là nói đến hành thủy, nhưng để bớt rườm ra thường bỏ đi chữ “hành”. Nước có thể xếp thuộc hành thủy nhưng Hành Thủy KHÔNG PHẢI là nước. Giả thuyết có thể nước được xếp vào hành thủy, được mượn tượng để gọi hành thủy cũng có sự hợp lý nhất định bởi thủy triều thường lên vào ban đêm, mùa đông và ban đêm đều là thời điểm trái đất nhận được ít năng lượng từ mặt trời hơn cả. Tương tự thế mộc được dùng để đặt tên cho trạng thái vận hành thời khí tại mùa xuân bởi mùa xuân cây cối đâm chồi nảy nở tươi tốt. Hỏa được dùng đặt tên cho hành hỏa cũng bởi những lý do tương tự, kim được đặt tên cho trạng thái vận hành thời khí mùa thu bởi mùa thu trái ngược với mùa xuân, cây cối giống như bị các công cụ làm bằng kim loại chặt phá. Còn thổ là hành chủ thời điểm giáp ranh giữa các mùa, như mặt đất luôn tồn tại giữa mọi quá trình biến đổi. Nên thuyết về Hà Đồ mới viết: “Thiên nhất sinh Thủy, Địa lục thành chi. Địa nhị sinh Hỏa, Thiên thất thành chi. Thiên tam sinh Mộc, Địa bát thành chi. Địa tứ sinh Kim, Thiên cửu thành chi. Thiên ngũ sinh Thổ, Địa thập thành chi.”

Ngũ hành cũng có âm dương: mộc hỏa hành dương, kim thủy hành âm, thổ thì vốn là hành trung gian, phân làm hai loại táo thổ và thấp thổ, táo thổ thiên hướng về dương, thấp thổ thiên hướng về âm. Người học Tử Bình thì tạm hiểu là thực chất có thể phải học về “lục” hành chứ không chỉ là ngũ hành, đây là điều rất quan trọng cần phải nắm rõ. Kết hợp với tính chất âm dương, âm sinh, dương trưởng.

Mối quan hệ giữa các hành

Thủy sinh mộc chính là mùa xuân hình thành từ nền tảng mùa đông hỗ trợ mùa xuân, nhưng có khí thủy do âm tính quá cao cũng không sinh mộc, nên cổ nhân mượn tượng thủy hàn lạnh cũng không sinh cho mộc, cần hỏa điều hậu. Mộc sinh hỏa bởi mộc là dương nhưng không quá dương, mùa xuân là tiền đề cho mùa hạ. Kim sinh thủy bởi kim là âm nhưng vẫn còn dư khí dương, mùa thu là tiền đề cho mùa đông. Nhưng hỏa là chí dương, dương đơn độc thì không sinh kim, cần hành thổ điều chỉnh mới tạo tiền đề cho mùa thu, vì thế hỏa không sinh kim, mà sinh thổ, ngược lại hỏa còn có phần khắc kim, nhưng hỏa vẫn có thể làm tiền đề yếu ớt cho kim, thể hiện qua việc kim trường sinh tại Tỵ, thời điểm hỏa chưa quá vượng. Cũng giống như thủy khi quá âm mà chưa nhận được khí dương thì sinh mộc hạn chế, hỏa khi quá dương thì cũng sinh thổ hạn chế. Bởi thế bát tự sinh mùa hè và mùa đông cần phải điều hậu để các quá trình sinh chuyển được hài hòa. Người sinh mùa đông nếu bát tự có hỏa thì được điều hậu “sưởi ấm”, người sinh mùa hè bát tự có thủy thì được gọi là được điều hậu làm mát. Nói

thế không có nghĩa là người sinh mùa hè và đông nhất nhất cần thủy, hỏa điều hậu, chúng chỉ là hệ số phụ thôi, nếu sắp xếp hợp lý thành cách cục tốt thì không có cũng chẳng sao, thậm chí nhiều khi không có thì tốt hơn là có mà không đủ mạnh. Tóm lại lý thuyết ngũ hành tương sinh hay tương khắc là sự phù hợp hay không phù hợp của các hành tại thời điểm hành đó làm chủ, chúng hình thành dựa trên đặc tính âm dương của ngũ hành và sự luân chuyển của các trạng thái thời khí, mà thời khí được quyết định dựa trên sự vận hành của trái đất quanh mặt trời. Lý luận về ngũ hành theo các giờ trong 1 ngày cũng tương tự. Lý thuyết gắn các tính chất của ngũ hành và ảnh hưởng của mặt trời tới trái đất này phù hợp với sự đồng nhất của tính chất ngũ hành theo thời gian và tính ngũ hành theo không gian. Gần xích đạo nhận được nhiều năng lượng mặt trời tương ứng với hành hỏa, ở bán cầu bắc, phương bắc ngược lại ứng với hành thủy, phương đông nhận ánh sáng mặt trời vào buổi sáng tương ứng hành mộc, phương tây ngược lại ứng với hành kim, và các khu vực giáp ranh ứng với hành thổ. Ở trong phần âm dương đã nhắc đến các dạng phát triển lặp lại tương tự như những mô hình tương tự fractal trong toán học, mỗi một thể được tách ra thành từng phần, mà mỗi phần giống như 1 tổng thể với độ thu phóng nhỏ hơn. Ngay cả trong một hành cũng được phân định các đặc tính âm dương và trung gian, sinh trưởng, công thủ, hỗ hóa qua các đặc tính của can chi.

Và nếu chúng ta dùng giả thuyết rằng cổ nhân sử dụng một hệ thống lý thuyết fractal vạn vật này để suy đoán và áp dụng để nghiên cứu về con người, thì chúng ta có thể hình dung rằng những lý thuyết ta đang nghiên cứu có một sự liên kết tương đối chặt chẽ, từ đó có thể mạnh dạn loại trừ đi một số luận thuyết vừa thiếu cơ sở vừa thiếu phổ quát trong nghiệm lý để tập trung nghiên cứu, phát triển các lý thuyết mang tính học thuật và có cơ hội ứng nghiệm cao hơn.

Từ ngũ hành đến lục hành của địa chi

Dần, Mão hành mộc. Tỵ, Ngọ hành hỏa. Thân, Dậu hành kim. Hợi, Tý hành thủy. Thìn, Tuất, Sửu, Mùi hành thổ. Sửu, Thìn thấp thổ, Sửu là thấp thổ tiêu biểu nhất, trong một số tình huống có thể hỗ trợ thủy mạnh mẽ. Tại nguyệt lệnh Sửu cần cân nhắc đến việc luận chủ khí theo thủy. Mùi, Tuất táo thổ. Mùi là táo thổ tiêu biểu nhất, trong hầu hết tình huống hỗ trợ hỏa mạnh mẽ. Tại nguyệt lệnh Mùi cần cân nhắc luận chủ khí theo hỏa.

Vòng trường sinh của ngũ hành tại 12 địa chi

Vòng trường sinh hay 12 trạng thái của ngũ hành tại địa chi thể hiện sự biến đổi của ngũ hành theo 1 chu kỳ địa chi qua các trạng thái từ hưng thịnh đến suy tàn.

Về hành thổ có 2 cách tính, có lý thuyết gửi thổ theo hỏa, và có lý thuyết gửi thổ theo thủy.

Can nhập mộ

Mộ là 1 trạng thái trong vòng trường sinh. Giáp, Ất, Dần, Mão mộ tại Mùi; Bính, Đinh, Tỵ, Ngọ mộ tại Tuất; Canh, Tân, Thân, Dậu mộ tại Sửu; Nhâm, Quý, Tý, Hợi mộ tại Thìn; Có thuyết nói Mậu, Kỷ mộ tại Thìn, có thuyết nói Mậu, Kỷ mộ tại Tuất. Theo nghiệm lý, tôi cho rằng thổ có những điểm đặc biệt không dễ dàng nói thổ mộ tại đâu được. Ví dụ trụ Mậu Tuất thì phải luận Mậu có gốc mạnh tại Tuất, không luận Mậu tọa mộ. Hay Mậu Thìn cũng tương tự như thế, dĩ nhiên Mậu tại Thìn có rủi ro hơn Mậu tại Tuất vì trong Thìn tàng mộc, thủy, nếu có mộc, thủy thấu mạnh thì Mậu cũng bị khắc cho thê thảm. Đấy là vì trong cấu trúc tàng can cũng đã tàng ẩn sẵn những tính chất từ vòng trường sinh rồi. Nhập mộ thì thường gắn với những kiến giải cho rằng xấu cho can chi ấy, nhưng không hẳn như vậy, mộ chỉ xấu khi can chi bị cô lập, không được sinh trợ thôi. 1 can Ất thì có thể mộ tại Mùi, nhưng nếu có 2 can Ất cũng xuất hiện thì Mùi trở thành gốc của mộc, hoặc Mùi có thêm Mão, Hợi thì Mùi lại thành gốc cho mộc, ngũ hành khác cũng thế. Mộ gặp xung thì tính tiêu cực cũng bị suy giảm. Ngoài ra, Canh, Tân tại Sửu cũng ít khi thấy tính chất bị mộ như các can chi ngũ hành khác bởi Sửu chủ khí là thổ, gọi là trong mộ có sinh, thường thì nên nhìn nhận Sửu là gốc của Canh, Tân sẽ hợp lý hơn.

Mộ khố - khai khố

Các chi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là mộ của ngũ hành, nhưng cũng được coi là khố (cái kho chứa) của ngũ hành mà mộ trong đó. Thìn là thủy khố, Tuất là hỏa khố, Mùi là mộc khố, Sửu là kim khố. Những chi tứ khố này trong bát tự gặp can chi khác xung, hình thì cũng có thể làm ngũ hành trong khố đó được “động” ám xuất ra, ví dụ Thìn xung Tuất làm thủy xuất ra, Mùi Tuất hình nhau làm hỏa xuất ra. Thường khi xung sẽ có 1 mạnh 1 yếu, Thìn mạnh xung Tuất thì bị xung tán, còn thủy được khai khố, Tuất mạnh hơn Thìn thì Thìn tán, Tuất khai khố.

Một số kiến thức về can và chi

Giữa can và chi thì can được coi là động, chi

được coi là tĩnh Hiểu nôm na thế này, 1 năm có 12 tháng, 1 ngày có 12 giờ, ứng với 12 địa chi, thứ tự địa chi tháng trong năm, ngày trong giờ không bao giờ thay đổi, nhưng các can ứng với các địa chi thì có sự khác biệt để biểu đạt những thông số khác nhau. Địa chi là chỗ dựa của thiên can, là đất sống của thiên can, còn thiên can là ngọn hải đăng dẫn dắt các thuộc tính khác nhau của địa chi thể hiện. 1 thiên can mạnh khi có nhiều địa chi có thể là gốc của nó. Nhưng nếu nhiều thiên can mạnh cùng ngũ hành xuất hiện thì có rủi ro nó trở nên thái quá, hỗn tạp và rối loạn trong vận hành.

Đơn thấu thâm căn

Như đã nói ở trên, 1 thiên can mạnh khi có nhiều địa chi có thể là gốc của nó trở thành điều kiện lý tưởng của sự ổn định của 1 can. Nếu can đó là dụng thần thì nhiều khả năng sẽ có 1 bát tự tốt đẹp.

Can thái quá

Lưu ý: tùy vào các dạng thập thần mà mức độ thái quá có thể gây tác hại khác nhau, dẫn đến tiêu chí tính thái quá lại khác nhau. Ví dụ bát tự can ngày là Ất, lại có 1 can Canh, 1 can Tân cùng thấu, Canh là Chính Quan, Tân là Thất Sát. Mà 2 can này lại cùng mạnh, xuất hiện tình trạng 1 núi 2 hổ, 1 nước 2 vua đấu đá với nhau nên là Quan Sát hỗn tạp. Hay thấy 2 can Ấn Kiêu cùng xuất hiện mà không phải nguyệt lệnh thì cũng chưa chắc đã phải thái quá, nhưng nếu nguyệt lệnh cũng là Ấn Kiêu hoặc ở địa chi lại có hợp cục, hội cục thì có nguy cơ cao Ấn Kiêu trở nên thái quá.

Quan Sát thái quá

Được gọi là Quan Sát hỗn tạp Do Chính Quan và Thất Sát là 2 thần thuộc nhóm đứng đầu nên cần phải lưu ý. Nếu cả Chính Quan và Thất Sát cùng xuất hiện sẽ làm xấu đi năng lực của Chính Quan. Cụ thể xem thêm ở phần cách cục Chính Quan, Thất Sát. Nhưng cả Quan Sát đều hư phù thì chúng hỗn tạp cũng không đáng ngại.

Tài tinh thái quá

Tài thái quá có thể trở thành Tài lộ Tài cũng là 1 trường hợp cần lưu ý, Tài thấu từ 2 can trở lên, bất kể là Thiên Tài hay Chính Tài đều có thể là không tốt, là tượng Tài lộ dễ bị cướp đoạt. Nếu Tài là dụng thần mà lộ dù nhiều gốc cũng có thể là không tốt, Tài lộ mà cùng hư phù thì có thể gặp biến cố lớn về tiền bạc. Nói chung là bát tự có Tài lộ thì cần làm giàu chân chính, bền chắc, tránh những việc mạo hiểm, rủi ro.

MỤC LỤC