BBTB
← Về mục lụcdocs/tuvi/tvdvnl-2026.md
Nguyên bản · Ấn bản 2026

Tử Vi Đại Việt Nghiệm Lý

Toàn văn sách 2026. Mỗi Chương N có anchor #chuong-N — có thể chia sẻ link trực tiếp tới phần đang đọc.

Nguồn: chuyển đổi từ tài liệu gốc TVĐVNL 2026.doc (Microsoft Word, 69 trang, 24.150 chữ). Văn bản giữ nguyên; tiêu đề và bảng được tái cấu trúc sang markdown. Xem quy trình chuyển đổi.

Chương 1 — GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TỬ VI

Nguồn gốc và quá trình phát triển của Tử vi

Tử vi là một môn chuyên nghiên cứu về nhân mệnh học của văn hóa phương Đông với hệ thống lý thuyết dựa trên âm dương ngũ hành, thông qua lá số Tử vi được lưu truyền và không ngừng phát triển qua các thời kỳ lịch sử.

Tử vi có thể đã được phát triển từ xa xưa, nhưng đến đời Tống ở Trung quốc được biết đến một cách hoàn chỉnh và phổ biến nhờ đạo sĩ Trần Đoàn, người đã dự đoán sự phát triển của triều đại Tống với vị vua đầu tiên là Triệu Khuông Dẫn. Sau khi Hi Di Trần Đoàn qua đời, đệ tử Tử vi của ông chia thành hai phái, phái đi về phương nam chịu ảnh hưởng của khoa bói toán nên đời sau gọi là Hà Lạc phái. Một số sao mới mà trong Tử vi Chính Nghĩa Kinh không có được thêm vào như: Thiên Giải, Địa Giải, Giải Thần, Thiên Quan, Thiên Phúc, Thiên Tài, Thiên Thọ, Thiên Y, Thiên Trù, Quán Sách, Thiên Xá....Vòng Thái tuế có 5 sao, thêm vào 7 sao mà thành 12 sao. Cách an sao cũng có một số thay đổi so với Hi Di tiên sinh. Công trình của phái này còn chép trong bộ Tử vi âm dương chính nghĩa nam tông. Học trò của Hi Di tiên sinh đi về phương Bắc đã bị ảnh hưởng của âm dương sinh khắc ngũ hành. Công phu của phái này còn lưu truyền bộ Tử vi âm dương chính nghĩa bắc tông. Một chi phái thuộc dòng dõi hoàng thất của nhà Tống cũng được lưu truyền mà tác phẩm Triệu thị minh thuyết Tử vi kinh. Tử vi ở Trung quốc từ đó cũng hình thành nhiều trường phái khác nhau, đến hiện tại như Tử vi bắc phái, Tử vi nam phái, Trung Châu phái, Tứ hoá phái, Tam hợp phái,...ở các địa phương như đại lục, Đài Loan, Hồng Kông.

Tại Việt Nam, nổi tiếng nhất là Đông A di sự ghi lại các câu chuyện về Tử vi thời nhà Trần mà dời sau được biết với cái tên Đông A phái, sau đó là Phú Tử vi của Lê Quý Đôn cho đến thời cận đại có các tác phẩm như Tử vi đẩu số tân biên của Thái Thứ Lang, Tử vi chỉ nam của Đỗ Văn Lưu, Tử vi hàm số và Tử vi tổng hợp của Nguyễn Phát Lộc, Tử vi ảo bí của Việt Viêm Tử,...

Từ những năm 2000 trở đi cùng với sự phát triển mạnh mẽ về mạng internet nên rất nhiều kiến thức thuộc các lĩnh vực từ xưa đến nay được chia sẻ, phổ biến rộng rãi. Trong đó, lĩnh vực huyền học phương Đông được trao đổi trên các diễn đàn rất sôi động. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, sự toàn cầu hóa dẫn đến giao thoa, hội nhập về tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục dẫn đến sự phong phú, đa dạng và phức tạp của xã hội nên việc ứng dụng môn Tử vi vào cuộc sống cũng rất phong phú, đa dạng và phức tạp. Các trường phái Tử vi Trung hoa cũng từ đó mà du nhập vào Việt Nam với các trường phái như Tam hợp phái, Tứ hóa phái,… Hiện đại hóa làm cho con người dễ dàng tiếp cận với sách vở Tử vi nhiều hơn nhưng cũng rơi vào tình trạng không biết chọn lọc và ứng dụng như thế nào cho phù hợp vào thực tiễn cuộc sống.

Tóm lại, các môn thuật số được phát triển khá rộng rãi ở trong đời sống, được lưu truyền và phổ biến ở Trung quốc và Việt nam qua các thời kỳ khác nhau, mỗi một giai đoạn đều có những nhân vật và tác phẩm nổi tiếng để lại cho đời sau theo các hình thức như ở bộ phận Khâm Thiên giám trong triều đình, các môn phái, các bậc tri thức và những người hành nghề thuật số giang hồ.

Đặc điểm của Tử vi

Tử vi đề cập về tính mệnh con người và tất cả các yếu tố liên quan tới con người nên có tính nhân bản nên nghiên cứu về số mệnh con người đòi hỏi phải có tinh thần nhân văn sâu sắc. Bởi lẽ, bất kỳ vấn đề gì được nêu ra luôn có tính hai mặt, có sự ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần, tâm lý của một cá nhân, cần có sự cẩn thận khi đưa ra nhận định. Khi đánh giá những đặc điểm chung từ mặt mạnh, mặt yếu, cơ hội cũng như thách thức, rủi ro của mỗi cá nhân để từ đó phát huy những giá trị tốt đẹp và giảm thiểu rủi ro một cách chủ động, thuận lẽ tự nhiên để có một cuộc sống an lành, hạnh phúc. Tính nhân văn là những tư tưởng, hành động thể hiện sự quý trọng các giá trị của con người như trí tuệ, tình cảm, phẩm giá, sức mạnh và vẻ đẹp, hướng đến việc giải quyết nhu cầu, nỗi đau của con người và tôn trọng các mối quan hệ cộng đồng, môi trường.

Lá số Tử vi được hình thành từ hệ thống lịch pháp với các yếu tố năm tháng ngày giờ kết hợp với giới tính của mỗi cá nhân. Có thể tính ra được có tổng cộng hơn 500 ngàn lá số tất cả, nên khi dân số đông thì việc có nhiều người sinh cùng ngày cùng giờ sẽ mang lại một số thách thức cho môn Tử vi.

Lá số Tử vi là hồ sơ hóa các thông tin của mỗi cá nhân, trong đó có phần cố định và phần biến động tùy vào từng lá số. Tử vi là một môn huyền học về đời người với các mối quan hệ về nội tâm và ngoại cảnh. Cơ sở của môn học này là hệ thống các cung và sao phối hợp với nhau theo các dữ liệu đầu vào là giờ, ngày, tháng, năm sinh âm lịch và giới tính để tạo thành lá số Tử vi. Một lá số Tử vi xem xét các lĩnh vực của con người gồm: bản thân (hình dáng, tính tình, sức khỏe, họa hại, thọ yểu,...), gia đình (ông bà, cha mẹ, anh chị em, vợ chồng, con cái), xã hội (công việc, bạn bè, đồng nghiệp, môi trường xã hội) và tài sản vật chất diễn biến theo không gian và thời gian nhất định gọi là xem vận trên lá số ở các cấp độ: 10 năm (đại vận), 1 năm (tiểu vận), 1 tháng (nguyệt vận) và 1 ngày (nhật vận).Yếu tố âm dương ngũ hành, đặc điểm, cơ sở dữ liệu được thể hiện rất rõ qua quy ước của các cung và các sao. Từ dữ liệu giờ, ngày, tháng, năm sinh âm lịch và giới tính của con người sẽ có tổng cộng khoảng hơn nửa triệu lá số. Tử vi có đầy đủ đặc điểm của âm dương và ngũ hành, các yếu tố thiên địa nhân biểu hiện ở các cung và các sao.

Tử vi là một môn có tính khoa học rất chặt chẽ thông qua vận dụng các nguyên tắc, phương pháp và tiêu chuẩn của khoa học để đạt được kiến thức chính xác, có hệ thống về các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy, đồng thời đòi hỏi tư duy logic, biện chứng và bám sát thực tiễn, sử dụng thông tin đầy đủ, khách quan. Tử vi là một môn nghiên cứu về nhân mệnh học nên nó đáp ứng đầy đủ các tiêu chí của một môn khoa học như: phương pháp luận có các quy tắc và công thức riêng từ lý thuyết tới thực tiễn, từ thực tiễn bổ sung lý thuyết, dựa trên các yếu tố như ngày, giờ, tháng, năm sinh để lập ra lá số Tử vi.

Theo văn hóa phương Đông, để đánh giá sự thành công hay không người ta dựa vào thiên thời, địa lợi và nhân hòa. Nếu như hội tụ đủ ba yếu tố trên thì khả năng thành công sẽ rất cao, ngược lại thì sẽ giảm đi, trong ba yếu tố đó thì yếu tố nhân hòa được đánh giá cao hơn cả vì quan điểm không có thiên thời, không đạt địa lợi mà có nhân hòa thì vẫn đảm bảo được sự thành công. Phân tích lá số Tử vi bao giờ cũng phải dựa trên các mối tương quan giữa cung và cung, cung và sao, sao và sao để xác định các dấu hiệu rồi mới đưa ra các kết luận về một dữ kiện nào đó một cách đầy đủ, cụ thể và logic.

Tử vi là môn có khả năng dự đoán về những việc đã, đang và sẽ diễn ra tùy các mức độ chung chung, trọng tâm, xu hướng và cụ thể để tham khảo làm động lực ra quyết định cho mỗi người. Đây chính là đặc điểm nổi bật có sức hút rất lớn đối với nhiều người để tìm hiểu, nghiên cứu về Tử vi.

Có tính ứng dụng thực tiễn trong đời sống mỗi người từ định hướng cách sống, ứng xử, sức khỏe, chọn ngành nghề, chọn nơi sống, hôn nhân gia đình, tạo lập và phát triển các mối quan hệ xã hội... trong mọi giai đoạn của đời người.

Hơn tất cả, Tử vi đề cập đầy đủ về Đạo ứng xử hay đạo xử thế của mỗi cá nhân, người biết vận dụng kiến thức Tử vi sẽ giúp cho bản thân có được trạng thái tốt nhất, sống thuận với mọi người xung quanh, sống thuận với môi trường, sống hợp đạo và vì thế có được đời sống vui vẻ, hạnh phúc và thành công hơn. Đây cũng chính là một trong những tôn chỉ của môn Tử vi: Đức năng thắng số.

Tôn chỉ của Tử vi

Các môn huyền học phương Đông luôn có tôn chỉ dành cho những người học hỏi, nghiên cứu tìm hiểu nắm vững để tránh đi sai đường. Trong đó, tôn chỉ của Tử vi "Đức năng thắng số" rất ngắn gọn, dễ nhớ.

Trong đời sống thường gặp các cảnh thương yêu nhau thì hay phải xa, ghét thì hay gặp, cầu chẳng được như ý nhưng cũng có người sau khi tu tâm sửa tính rồi thì yêu ở gần, ghét không gặp, không cầu mà được.

Dùng ngôn từ "tu hành, tu tâm" có thể phù hợp với những người theo một số tôn giáo nhất định, có tính chuyên tâm cao. Tuy nhiên, để phù hợp với thực tế điều kiện xã hội hiện đại và đại đồng thế giới, mục đích căn bản của việc học Tử vi là giúp cho người học, người xem có thể tự điều chỉnh ý nghĩ, quan điểm, lời nói và hành động để có được một cuộc sống an lành, hạnh phúc tại mỗi thời điểm ra quyết định hoặc hành động.

Các châm ngôn ở trên đều có chung một triết lý cơ bản: tích đức, làm thiện, sống hài hòa, tiết giảm lòng tham, tính nóng nẩy, sự si mê, u mê, tâm thiện thì các nét mặt, khí sắc, âm lượng sẽ hiền hòa mà nhờ đó có được cuộc sống an vui, tự tại, có cơ hội, cơ duyên gặp đất lành, nơi ở tốt, yên ổn, có vị trí nhất định trong cuộc sống.

Đức là từ rất phổ biến nhưng hiểu rốt ráo ngữ nghĩa của từ này thì không phải là điều đơn giản với nhiều người. Thực ra, một từ thuần Việt có thể dùng biểu đạt chữ Đức chính là chữ Nết, rất gần gũi và giản dị đối với mỗi người dân Việt.

Vậy đức năng thắng số là gì? Thế nào là đức, thế nào là năng, thế nào là số? Phúc và Đức có mối quan hệ như thế nào?

Đức có định nghĩa rất rộng gồm cả ý nghĩ, lời nói, hành động tốt, hữu ích, đúng đạo. Năng là thể hiện tần suất nhiều hơn, thường xuyên, liên tục, kiên trì làm một việc nào đó. Số là những gì trời đã định dành riêng cho một con người, mà người đời hay gọi là số phận. Ngay trong số cũng có phần cố định và phần biến đổi với mức độ tỷ lệ khác nhau. Do vậy, không phải số phận là bất định mà là biến động phụ thuộc vào ý nghĩ, lời nói và hành động của mỗi con người từ giây từng phút, từng ngày, từng tháng, từng năm mà có thể có các mức độ khác nhau. Chính nhờ sự biến động, biến dịch này mà bất kỳ ai cũng có thể cải đổi được số mệnh của mình, thay đổi được mức độ, cường độ của mọi việc.

Để thắng được số phận, thì luôn phải điều chỉnh bản thân theo hướng tốt, tích cực, phù hợp đạo đức và làm thiện giúp đời để tích thêm Phúc Đức, làm cho thiện tính trong mỗi người ngày càng cao. Tục ngữ Việt Nam có câu "Ở hiền gặp lành" phần nào cũng đề cập đến nguyên lý "đức năng thắng số" này. Thiện tính tăng lên sẽ giúp cho bản thân dù gặp hung họa cũng bình an, họa nặng thì giảm, họa nhẹ thì không có. Bên cạnh đó phải chú tâm vào ý nghĩ, lời nói, hành động sao cho đúng đạo. Lâu dần hai việc đó kết hợp với nhau mà cải được số mệnh.

Xuất phát từ phương pháp phân tích lá số Tử vi dưới góc độ Thế - Thời -- Vận, mỗi cá nhân đều có thể áp dụng cách ứng xử theo Thế, theo Thời hay theo Vận tùy vào từng điều kiện, hoàn cảnh để thuận theo tự nhiên, thuận theo lẽ đời mà đạt được kết quả tối ưu. Những đặc điểm của Thế, Thời và Vận thường mang tính nguyên tắc chung và có tính định hướng nên rất dễ dàng vận dụng và có hiệu quả cao. Đó cũng chính là tuân theo tôn chỉ "Đức năng thắng số" của môn Tử vi.

Chương 2 — QUAN ĐIỂM VÀ TIÊU CHÍ

Tử vi có tính nhân văn cao cả, trong đó đề cập tới các mối quan hệ của cá nhân, cách ứng xử và phong cách sống như thế nào để thuận đạo lý, thuận tự nhiên và có được một cuộc sống an lành, hạnh phúc, thành công như mong đợi. Vì vậy, để đạt được những mong muốn đó, cần phải có những quan điểm đúng đắn và cách thức áp dụng phù hợp, từ đó tránh được các quan điểm mê tín, dị đoan và sử dụng sai mục đích bộ môn Tử vi.

Quan điểm

Bất kỳ lá số, bộ sao cũng có mặt tích cực, mặt tiêu cực và tùy vào từng hoàn cảnh mới phát tác ra. Do đó, khi đánh giá phải có các căn cứ, tiêu chí, lý lẽ để phân tích chứ không thể dùng cảm tính để đánh giá.

Khách quan thể hiện ở việc nhìn nhận, đánh giá đầy đủ các mặt của một vấn đề, một con người, một lá số, một sao trong lá số. Phần lớn các sách đều phân chia các sao thành tốt xấu là chính, nên khi học thì dễ nhớ nhưng lại khó đoán. Ví dụ, mọi người hay nói là sao này xấu sao kia tốt, nhưng tốt, xấu như thế nào lại không trả lời cụ thể được. Nhiều người hay nhấn mạnh vào việc số này xấu lắm, sao này xấu lắm, toàn sát tinh với bại tinh khiến cho đương số tinh thần hoang mang, chán chường vì số mình xấu. Đâu biết rằng sao xấu hay tốt đều xuất hiện ở trên lá số, lúc nào chả gặp phải nó? Cái chính là tác dụng của các sao này thế nào? Ví dụ như bác sĩ là cứu người nhưng trên tay lại cầm dao, cắt thịt của người bệnh, rồi gặp đủ thứ bệnh,... Khi không khách quan ngoài chuyện đoán sai, có thể dễ xen vào chuyện riêng tư của người khác và làm những điều trái đạo. Đây là yêu cầu rất quan trọng, đặc biệt đây là một môn lý học chứ không phải là kiểu "thầy bói xem voi". Chỉ cần có thái độ nặng về cảm tính khi xem Tử vi là các phán đoán dễ bị sai lầm. Ví dụ, nhiều người thường cho rằng việc xem số cho người thân quen thường không có tính chính xác cao, đấy là lý do của việc không có phương pháp luận khoa học và khách quan nên thường phát biểu mang tính chủ quan, ngụy biện.

Khuyến thiện sẽ giúp hạn chế việc ỷ vào số tốt mà làm càn hoặc mặc kệ số xấu mà không phấn đấu nỗ lực để đạt kết quả hơn. Do đó, đây là quan điểm nhằm phát huy một tư duy tích cực, lời nói tích cực và hành động tích cực để có một cuộc sống an lạc. Khuyến thiện là hướng tới những điều tốt đẹp, những điều tích cực, hướng tới ánh sáng, hướng tới tương lai. Cuộc sống của mỗi con người sống trên đời không ai có thể tròn vẹn mọi thứ, được mặt này thì khuyết mặt kia và được minh chứng rõ ràng trên lá số. Số có thể không thay đổi ngay hoặc làm biến mất các sự kiện, nhưng tính chất sự việc nặng nhẹ, ít nhiều có thể điều chỉnh được. Hiểu được tôn chỉ "Đức năng thắng số - Ở hiền gặp lành" có thể giúp cho mọi người thay đổi quan điểm tư tưởng, lời nói và hành động giúp bản thân họ có cuộc sống ngày càng tốt hơn, củng cố niềm tin vào lý số như là chánh tín chứ không sa đà vào mê tín dị đoan. Ví dụ, để có một cuộc sống tốt hơn thì phải tích cực sống thiện, nghĩ thiện, nói thiện, làm thiện tăng tính thiện, phúc của mình lên và hành động đúng theo pháp luật, đúng theo đạo lý như ông bà ta thường nói "Ở hiền gặp lành". Như một người dù ăn uống chay tịnh, hành động giữ gìn đúng mực nhưng vẫn bị bệnh dù bệnh nhiều nay đã giảm ít vì vẫn còn thiếu tâm thiện, việc thiện vì tâm thiện, việc thiện sẽ giúp dứt điểm bệnh ác trong người; ngược lại, có người làm thiện rồi vẫn bị bệnh vì trong lối sinh hoạt, ăn uống vẫn còn ăn, nói, hành động những việc chưa đúng mực, chưa hợp với vệ sinh dinh dưỡng, chưa tập thể dụng, lao động đúng cách để tránh bệnh, đó là "Có thờ có thiêng, có kiêng có lành". Với tinh thần này cần phải khuyến khích bản thân, khuyến khích mọi người nghĩ thiện, nói thiện, làm thiện để có được một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Không lạm dụng là nhờ hiểu biết về số phận của mình và của người khác nhưng không có các hành động trái đạo lý và trái pháp luật. Làm thế là tự hại mình và hại người vì sẽ không tránh khỏi luật nhân quả và xử lý của pháp luật, dù có thể lợi dụng sự sơ hở của trời đất, của pháp luật để làm việc sai quấy nhưng đến một lúc nào đó sơ cơ là sẽ phải trả giá. Người biết Tử vi là biết nắm bắt được thời, thế, vận để ứng dụng linh hoạt, phù hợp với thiên đạo, giúp người, giúp đời và tuyệt đối không lạm dụng học thuật vì mục đích cá nhân để cuộc sống ngày càng tốt lên. Dùng cho bản thân thì chỉ khi cấp bách, hoặc để phát huy các giá trị tốt đẹp. Còn như lạm dụng một cách thường xuyên thì sẽ bị hoán đổi các sự kiện, không đạt như mong muốn vì đây là một môn huyền học không phải để cho bất kỳ ai lạm dụng. Đề cao về quan điểm trong Tử vi bởi vì trong xã hội hiện nay có rất nhiều sách vở, trường phái, người có hiểu biết về Tử vi, nhưng cách áp dụng vào thực tiễn cuộc sống thì muôn hình muôn vẻ. Có người dùng làm nghề kiếm sống qua ngày, có người dùng thuật nhiều hơn đạo, nên đôi khi những lời nói, hành động gây tác động tâm lý rất mạnh đối với người khác.

Tiêu chí

Tính tổng quát phải được xem xét một cách tổng thể với các cấp độ quy mô khác nhau. Xem xét các mối quan hệ gia đình và các mối quan hệ xã hội. Căn cứ trên các con số thống kê để biết sự vật, hiện tượng đang xem xét có mang tính đại diện hay không, tránh tình trạng như phiến diện trong đánh giá. Xem các lĩnh vực với các phạm vi, quy mô khác nhau bằng các câu hỏi: ai, cái gì, ở đâu như phạm vi diện tích lớn nhỏ, tại địa chỉ cụ thể, xóm, khu, phường, xã, quận, huyện, tỉnh, thành phố, đất nước, khu vực, châu lục, thế giới và khi nào như năm, tháng, ngày, giờ, như thế nào, tại sao.

Tính trọng tâm là bước tiếp theo dùng để xác định các nội dung chính của lá số hoặc vấn đề cần xem xét. qua một lượt thì phải xác định được các bộ sao chính, vấn đề chính của lá số, xác định được cung trọng tâm của lá số mà từ các cung này sẽ có ảnh hưởng lớn tới cuộc đời. Nếu xác định được vấn đề trọng tâm hay vấn đề chính sẽ giúp cho mỗi người tập trung vào phát huy được tiềm năng, thế mạnh hoặc giải quyết được cơ bản những vấn đề khó khăn, vướng mắc của bản thân. Vì vậy, xác định rõ trọng tâm thì sẽ giúp cho bản thân, cho người khác xử lý vấn đề có hiệu quả cao và có ý nghĩa rất quan trọng khi vận dụng lý số trong đời sống.

Tính cụ thể là bước tiếp theo sau khi biết trọng tâm, bằng cách kết hợp các cung, các sao để xác định chi tiết cụ thể của từng vấn đề, từ đó có các giải pháp cụ thể. Nguyên tắc xác định: ai, cái gì, ở đâu, khi nào, như thế nào và tại sao. Tính cụ thể có thể ở phạm vi rất nhỏ hoặc rất to, tùy vào từng sự vật, hiện tượng mà có thể khoanh vùng lại để liên hệ thực tế, đưa ra các nhận định chính xác, sát thực tế nhất. Bước này đòi hỏi phải nắm được tính chất các cung các sao, cách cục các bộ sao.

Tính định hướng là bước cuối cùng sau khi đánh giá lá số, đây cũng là một trong những tiêu chí quan trọng đáp ứng được tôn chỉ ở hiền gặp lành là mọi vấn đề sau khi xem xét, xác định được nguyên nhân thì phải có giải pháp cụ thể, có định hướng cho các hành động. Tùy vào thời nào mà có cách ra quyết định phù hợp để đạt được kết quả thành công cao nhất. Tùy vào thế mà có cách xử lý dung hòa được các cung, lĩnh vực để được yên ổn, an lành, cân bằng. Tùy vào vận như thế nào mà biết cách tiến thoái sao cho bình an. Tính định hướng tốt sẽ giúp tạo nên tính nhất quán từ trước tới sau, từ đầu tới cuối. Dù trong quá trình phân tích, đánh giá có những vấn đề mâu thuẫn nhau, nhưng nó vẫn nằm trong tổng thể chung, không vì sự mâu thuẫn, trái ngược mà hoang mang, thiếu tính nhất quán dẫn đến sai lầm không đáng có.

Chương 3 — KHÁI NIỆM CƠ BẢN

Tử vi được xây dựng trên hệ thống lịch pháp, các cung và hệ thống sao. Vì vậy, để tìm hiểu Tử vi cần phải nắm rõ các khái niệm liên quan đến các nội dung trên. Đối với hệ thống lịch pháp đó là âm dương, ngũ hành, can chi; đối với các cung gồm có thiên bàn, địa bàn và nhân bàn; đối với hệ thống sao là sao chính sao phụ và các khái niệm khác có liên quan. Các khái niệm cơ bản thường mô tả các đặc điểm hoặc quy ước các hình tượng trong tự nhiên, có nhiều cách diễn giải từ một biểu tượng. Đây là đặc điểm chung của các môn huyền học phương Đông, được biết với cái tên gọi là tượng học.

Can chi

Can và chi gắn liền với việc ra đời của lịch pháp cổ đại, đặc trưng của lịch pháp phương đông hay còn gọi là lịch mặt trăng (âm lịch). Người xưa quan sát chu kỳ mặt trời mà định ra 10 can và chu kỳ mặt trăng rồi định ra 12 chi. Từ đó ghép can chi lại với nhau theo nguyên tắc dương dương và âm âm để định ra 60 can chi rồi hình thành lên lịch pháp. Vì vậy, can chính là vòng tuần hoàn của trời được gọi là thập thiên can và chi là vòng tuần hoàn chu kỳ mặt trăng ứng với đất được gọi là thập nhị địa chi tương ứng với 12 tháng.

Tên gọi của 10 thiên can lần lượt là Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý, còn 12 địa chi lần lượt là Tý Sửu Dần Mão Thìn Tị Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi.

Quan hệ giữa 10 can với nhau gồm có quan hệ hợp và phá. Quan hệ hợp gồm Giáp hợp Kỷ, Ất hợp Canh, Bính hợp Tân, Đinh hợp Nhâm, Mậu hợp Quý; quan hệ phá gồm: Giáp phá Mậu, Ất phá Kỷ, Bính phá Canh, Đinh phá Tân, Mậu phá Nhâm, Kỷ phá Quý, Canh phá Giáp, Tân phá Ất, Nhâm phá Bính, Quý phá Đinh.

Quan hệ giữa 12 chi với nhau gồm có hợp hại xung đối. Quan hệ hợp gồm có nhị hợp gồm Tý hợp Sửu, Dần hợp Hợi, Mão hợp Tuất, Thìn hợp Dậu, Tị hợp Thân, Ngọ hợp Mùi; tam hợp gồm Dần Ngọ Tuất, Tị Dậu Sửu, Thân Tý Thìn, Hợi Mão Mùi; quan hệ hại gồm có nhị hại Tý và Mùi, Sửu và Ngọ, Dần và Tị, Mão và Thìn, Thân và Hợi, Dậu và Tuất; quan hệ xung gồm Tý và Ngọ, Sửu và Mùi, Dần và Thân, Mão và Dậu, Thìn và Tuất, Tị và Hợi; quan hệ đối xứng qua trục Dần Thân gồm Sửu đối xứng với Mão, Tý đối xứng với Thìn, Tị đối xứng với Hợi, Ngọ đối xứng với Tuất, Mùi đối xứng với Dậu.

Thông qua kết hợp can chi lại với nhau mà thành ra các chu kỳ thời gian sẽ có 60 năm, 60 tháng, 60 ngày và 60 giờ chính là nền tảng của tất cả các môn ứng dụng bộ lịch pháp. Các can chi cũng được phân chia thành âm dương và ngũ hành theo các quy tắc nhất định.

Bảng 1. Lục thập hoa giáp (60 can chi)

GiápẤtBínhĐinhMậuKỷCanhTânNhâmQuýTýGiáp TýBính TýMậu TýCanh TýNhâm TýSửuẤt SửuĐinh SửuKỷ SửuTân SửuQuý SửuDầnGiáp DầnBính DầnMậu DầnCanh DầnNhâm DầnMãoẤt MãoĐinh MãoKỷ MãoTân MãoQuý MãoThinGiáp ThìnBính ThìnMậu ThìnCanh ThìnNhâm ThìnTịẤt TịĐinh TịKỷ TịTân TịQuý TịNgọGiáp NgọBính NgọMậu NgọCanh NgọNhâm NgọMùiẤt MùiĐinh MùiKỷ MùiTân MùiQuý MùiThânGiáp ThânBính ThânMậu ThânCanh ThânNhâm ThânDậuẤt DậuĐinh DậuKỷ DậuTân DậuQuý DậuTuấtGiáp TuấtBính TuấtMậu TuấtCanh TuấtNhâm TuấtHợiẤt HợiĐinh HợiKỷ HợiTân HợiQuý Hợi

Âm dương ngũ hành

2.1. Khái niệm và phân loại

Âm dương là khái niệm dùng để phân chia vạn vật, vạn sự thành hai nhóm có tính đối lập nhau. Âm dương tuy đối lập nhau nhưng lại bổ trợ, đồng hành với nhau, trong âm có dương, trong dương có âm. Từ đặc điểm đối lập của âm dương, cổ nhân đã đưa ra các quy ước cho tất cả các sự vật, hiện tượng trong thế giới. Ví dụ, trời dương đất âm, âm dưới thì dương trên, âm trong dương ngoài, âm chậm thì dương nhanh, âm tối thì dương sáng, âm trước dương sau, nam dương nữ âm, can dương chi âm, trong 10 can và 12 chi cũng chia ra 5 can dương và 5 can âm, 6 chi dương và 6 chi âm.

Đối với môn Tử vi, khái niệm âm dương được thể hiện ở năm sinh mà chia ra dương nam, âm nam, dương nữ, âm nữ; chia các cung trên lá số thành cung dương và cung âm, chia các sao có đặc tính dương và đặc tính âm, chia đặc tính của mỗi sao thành đặc tính dương và đặc tính âm...

Ngũ hành là khái niệm để quy ước cho 5 loại vật chất trong tự nhiên gồm Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ. Năm loại vật chất này lưu chuyển tuần hoàn theo một chiều chuyển hoá thuận thì được gọi là quan hệ sinh, chuyển hoá kìm hãm nhau thì gọi là khắc. Nguyên tắc của sinh và khắc được cụ thể theo các cấp độ vượng tướng hưu tù tử có sự chuyển hóa tuần hoàn qua lại giữa các hành với nhau và cũng có sự kiểm soát, khắc chế lẫn nhau để tạo ra sự cân bằng trong tự nhiên.

Đặc điểm của ngũ hành được mô tả ngắn gọn như hành Kim là kim loại, có đặc tính cứng rắn, tinh gọn; hành Mộc là cây cối, có đặc tính sum xuê, nảy nở; hành Thủy là nước, chất lỏng, có đặc tính mềm mại, linh hoạt; hành Hỏa là lửa và ánh sáng, có đặc tính trong sáng, hư không; hành Thổ là đất, có đặc tính tụ lại, nền tảng cho các hành. Ngoài ra, các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên cũng được quy ước thành một trong năm hành.

Trong Tử vi, âm dương ngũ hành được dùng để quy ước cho các yếu tố như: can chi, các cung, các sao bằng các quy ước định sẵn. Nắm rõ đặc tính của âm dương ngũ hành và các nguyên tắc vận hành của chúng sẽ giúp cho việc áp dụng phân tích, đánh giá, luận đoán trong Tử vi được tinh thông, nhuần nhuyễn.

Quan hệ âm dương ngũ hành

Âm dương có quan hệ theo nguyên tắc "Cô âm bất sinh, độc dương bất trưởng" có nghĩa là chỉ có âm thì sẽ không có sinh, còn chỉ có dương thì sẽ không có sự tăng trưởng, trong âm có dương và trong dương có âm, âm dương bổ trợ cho nhau. Đồng thời, theo thuyết lý khí khi mà dương nhiều âm ít thì có xu hướng tích cực, âm nhiều dương ít thì có xu hướng tiêu cực.

Nguyên tắc tương tác giữa ngũ hành sinh khắc: thủy sinh mộc, mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy; thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim, kim khắc mộc, mộc khắc thổ, thổ khắc thủy. Đây chính là thước đo để đánh giá mức độ tương tác giữa các hành, đo lường cấp độ ảnh hưởng, biểu hiện của các cung và sao với nhau khi phân tích, luận đoán các sự việc, hiện tượng trong lá số, đồng thời cũng dự đoán xu hướng diễn biến của các sự việc đó.

Bảng 2. Quan hệ sinh khắc của ngũ hành

 [Hình lá số --- không kèm trong bản chuyển đổi]

Ngũ hành trong Tử vi

Bởi âm dương ngũ hành là những quy ước nền tảng cho mọi môn huyền học của phương Đông, nên trong mỗi môn sẽ có cách ứng dụng khác nhau. Việc hiểu rõ quy luật âm dương ngũ hành chính là điều kiện cần để bước chân vào con đường học thuật, vì vậy, người xưa thường nói y nho lý số chung căn bản vì các môn này thường phải hiểu sâu sắc về âm dương ngũ hành.

Trước tiên, đó chính là ngũ hành quy ước cho 10 can và 12 chi riêng lẻ. Việc vận dụng ngũ hành riêng lẻ chỉ mang tính tham chiếu nhất định khi luận đoán lá số.

Thứ hai, lá số được lập thành từ lịch pháp thông qua năm tháng ngày giờ sinh nên dữ liệu này cũng xuất hiện yếu tố ngũ hành, đó chính là ngũ hành của lục thập hoa giáp (60 can chi).

Bảng 3. Phân loại ngũ hành của Lục thập hoa giáp (60 can chi)

**Kim ****Mộc ****Thủy ****Hỏa ****Thổ **
Giáp TýMậu ThìnBính TýBính DầnCanh Ngọ
Ất SửuKỷ TịĐinh SửuĐinh MãoTân Mùi
Giáp NgọMậu TuấtBính NgọBính ThânCanh Tý
Ất Mùi Kỷ HợiĐinh MùiĐinh DậuTân Sửu
Nhâm ThânNhâm NgọGiáp ThânGiáp TuấtMậu Dần
Qúy DậuQuý MùiẤt DậuẤt HợiKỷ Mão
Nhâm DầnNhâm TýGiáp DầnGiáp ThìnMậu Thìn
Quý MãoQuý SửuẤt MãoẤt TịKỷ Dậu
Canh ThìnCanh DầnNhâm ThìnMậu NgọBính Tuất
Tân TịTân MãoQuý TịKỷ MùiĐinh Hợi
Canh TuấtCanh ThânNhâm TuấtMậu TýBính Thìn
Tân HợiTân DậuQuý HợiKỷ SửuĐinh Tị

Tuy nhiên, do cứ 2 cặp can chi liền nhau lại chung một hành nên 60 cặp can chi sẽ thành 30 hành, trong khi có 5 hành tất cả nên mỗi hành sẽ có 6 hành cụ thể. Ví dụ, hành Thuỷ sẽ gồm: Giản hạ thuỷ, Tuyền trung thuỷ, Trường lưu thuỷ, Thiên hà thuỷ, Đại khê thuỷ, Đại hải thuỷ; các hành khác cũng tương ứng như thế mà được chia thành 6 hành cụ thể. Việc phân chia này chính là cách phân biệt mức độ tương tác lẫn nhau giữa các hành.

Bảng 4. Quy ước ngũ hành chi tiết cho Lục thập hoa giáp

STTCan chiNgũ hànhTượng
1Giáp TýHải trung kimVàng trong biển
2Ất Sửu
3Bính DầnLô trung hỏaLửa trong lò
4Đinh Mão
5Mậu ThìnĐại lâm mộcCây rừng lớn
6Kỷ Tị
7Canh NgọLộ bàng thổĐất ven đường
8Tân Mùi
9Nhâm ThânKiếm phong kimVàng lưỡi kiếm
10Quý Dậu
11Giáp TuấtSơn đầu hỏaLửa đầu núi
12Ất Hợi
13Bính TýGiản hạ thủyNước dưới khe
14Đinh Sửu
15Mậu DầnThành đầu thổĐất đầu thành
16Kỷ Mão
17Canh ThìnBạch lạp kimVàng đèn cầy
18Tân Tị
19Nhâm NgọDương liễu mộcCây dương liễu
20Quý Mùi
21Giáp ThânTuyền trung thủyNước suối
22Ất Dậu
23Bính TuấtỐc thượng thổĐất trên nhà
24Đinh Hợi
25Mậu TýTích lịch hỏaLửa sấm sét
26Kỷ Sửu
27Canh DầnTùng bách mộcCây tùng bách
28Tân Mão
29Nhâm ThìnTrường lưu thủyNước chảy dài
30Quý Tị
31Giáp NgọSa trung kimVàng trong cát
32Ất Mùi
33Bính ThânSơn hạ hỏaLửa chân núi
34Đinh Dậu
35Mậu TuấtBình địa mộcCây đồng bằng
36Kỷ Hợi
37Canh TýBích thượng thổĐất trên vách
38Tân Sửu
39Nhâm DầnKim bạch kimThỏi vàng nén
40Quý Mão
41Giáp ThìnPhúc đăng hỏaLửa ngọn đèn
42Ất Tị
43Bính NgọThiên hà thủyNước trên trời
44Đinh Mùi
45Mậu ThânĐại dịch thổĐất nền nhà
46Kỷ Dậu
47Canh TuấtThoa xuyến kimVàng trang sức
48Tân Hợi
49Nhâm TýTang đố mộcGỗ cây dâu
50Quý Sửu
51Giáp DầnĐại khê thủyNước khe lớn
52Ất Mão
53Bính ThìnSa trung thổĐất trong cát
54Đinh Tị
55Mậu NgọThiên thượng hỏaLửa trên trời
56Kỷ Mùi
57Canh ThânThạch lựu mộcGỗ cây lựu
58Tân Dậu
59Nhâm TuấtĐại hải thủyNước biển lớn
60Quý Hợi

Thứ ba, trong Tử vi ngoài ngũ hành của năm sinh hay còn gọi là ngũ hành bản mệnh còn có ngũ hành của Cục. Cục của lá số được xác định từ vị trí cung Mệnh (đối với các tuổi (chỉ lấy thiên can của năm sinh, ví dụ: Giáp Kỷ, Ất Canh, Bính Tân, Đinh Nhâm, Mậu Quý). Cục của lá số gồm có: thuỷ nhị cục (có độ số là 2), mộc tam cục (độ số là 3), kim tứ cục (độ số 4), thổ ngũ cục (độ số 5), hoả lục cục (độ số 6). Cục là cơ sở để an chòm sao Tử vi và Thiên phủ. Về lý do tại sao cục lại lấy các số như trên, đó là căn cứ theo số tiên thiên quy ước là 1 thủy, 2 hỏa,  3 mộc, 4 kim, 5 thổ (các số này gọi là số sinh -- tức số ban đầu) và 6 thủy, 7 hỏa, 8 mộc, 10 thổ (các số này gọi là số thành -- tức số phát triển thêm từ các số sinh). Số ngũ hành của Cục trong Tử vi có chút khác biệt với ngũ hành vì lấy số sinh của hỏa để lập cục thủy (nhờ hỏa sinh thủy) và lấy số thành của thủy để tải hỏa (mượn số 6).

Cuối cùng, đó chính là ngũ hành của các sao trong Tử vi, ngoài 14 sao chính đã được quy ước cụ thể cho từng hành, thì các sao phụ còn lại cũng được chia thành các hành khác nhau tuỳ theo tên gọi và tính chất của chúng.

Bảng 5. Tổng hợp quy ước ngũ hành

MộcHỏaThổKimThủy
CanGiáp ẤtBính ĐinhMậu KỷCanh TânNhâm Quý
ChiDần MãoTị NgọThìn Tuất Sửu MùiThân DậuHợi Tý
Màu sắcXanhĐỏVàngTrắngĐen
PhươngĐôngNamỞ giữaTâyBắc
Số3, 82, 75, 04, 91, 6
Số Cục3, 81, 65, 04, 92, 7
Ngũ tạngGanTimTỳPhổiThận
Lục phủMậtRuột nonDạ dàyRuột giàBàng quang
Ngũ quanMắtLưỡiMiệngMũiTai
Cơ thểGânMạchThịtDa lôngXương
Khí hậuGióNóngẤmKhôLạnh
Cảm xúcGiậnMừngLoBuồnSợ
GiọngHétNóiCaKhócRên
Ngũ khíPhongThửThấpTáoHàn
Ngũ âmGiốcChủyCungThươngVũ
Ngũ nguyênTínhThầnKhíTìnhTinh
Ngũ đứcNhânLễTínNghĩaTrí
Ngũ vậtDu hồnThức thầnVọng duHồn pháchTrọc tinh
Hình thểTrụ thẳngChóp nhọnBằng phẳngTrònUốn lượn
Trạng tháiSinhTrưởngHóaThâuTàng
Ngũ tânBùnMồ hôiNước dãiNước mắtNước miếng
Ngũ vịChuaĐắngNgọtCayMặn

Mẫu lá số Tử vi

Chương 4 — CUNG TRONG TỬ VI

Khái niệm

Cung là một ô trên lá số Tử vi trong đó có chứa các thông tin theo quy ước. Cung là một lĩnh vực, phạm vi có nội dung cụ thể để mô tả các đặc điểm liên quan đến đời sống cá nhân theo các góc độ khác nhau. Yếu tố thiên địa nhân được thể hiện rõ thông qua việc bố cục lá số gồm có thiên bàn, địa bàn và nhân bàn. Thiên bàn chỉ có một cung nhưng địa bàn lại có 12 cung, trong khi nhân bàn lại có 13 cung tất cả. Sự tương quan của 13 cung nhân bàn có các mức độ khác nhau từ trực tiếp tới gián tiếp.

Mối tương quan của 12 cung địa bàn gồm có hợp, hại, xung và đối cũng là nền tảng cho các mối tương quan hợp hại xung đối của 13 cung nhân bàn.

Nhị hợp: Các cung nằm ngang với nhau trên đồ hình lá số. Ví dụ, Tý Sửu, Dần Hợi, Mão Tuất, Thìn Dậu, Tị Thân, Ngọ Mùi. Nhị hợp thường có tính gắn kết ngầm, hỗ trợ ngầm với mức độ vừa phải tới cung kia.

Nhị hại: Các cung nằm thẳng đứng trên dưới theo cặp. Ví dụ, Tị Dần, Mão Thìn, Ngọ Sửu, Mùi Tý, Thân Hợi, Dậu Tuất là các cặp cung nhị hại. Nhị hại thì thường gây những ảnh hưởng bất lợi hoặc có mối tương quan tỷ lệ nghịch đối với cung còn lại.

Xung chiếu: Các cung đối diện nhau và có ảnh hưởng mạnh nhất đối với cung đối diện so với cung tam hợp và cung nhị hợp, nhị hại. Các cung xung chiếu theo cặp: Tý - Ngọ, Mão - Dậu, Thìn -- Tuất, Sửu -- Mùi, Dần -- Thân, Tị - Hợi.

Đối xứng: Các cung đối xứng nhau qua trục Dần Thân, gồm các cung như: Sửu đối xứng với Mão, Thìn đối xứng với Tý, Tị đối xứng với Hợi, Ngọ đối xứng với Tuất, Mùi đối xứng với Dậu. Các cung đối xứng có tác dụng tạo thế cân bằng lẫn nhau.

Tam hợp: Các cung nằm cách nhau 3 cung tạo thành thế tam giác được gọi là tam hợp. Ví dụ: cung Thìn cách cung Tý 3 cung, cung Thân cách cung Thìn 3 cung và cung Tý cách cung Thân 3 cung. Các bộ tam hợp: Thân Tý Thìn, Tị Dậu Sửu, Hợi Mão Mùi, Dần Ngọ Tuất; các sao ở 3 cung này hợp chiếu lại với nhau gọi là tam hợp chiếu.

Trong Tử vi còn có khái niệm cung vô chính điệu, đây là cung không có sao chính, chỉ có các sao phụ. Việc luận đoán cung vô chính diệu cứ căn cứ vào các sao phụ có mặt trong đó mà mô tả đặc điểm của cung đó.

Các cung trong Tử vi

2.1. Thiên bàn

Ô vuông ở giữa lá số, bao gồm các thông tin như: họ tên, năm sinh (năm, tháng, ngày, giờ), giới tính; dương nam/âm nam, âm/dương nữ; ngũ hành mệnh theo năm sinh; ngũ hành Cục của lá số (thủy 2, mộc 3, kim 4, thổ 5, hỏa 6); âm dương thuận lý, nghịch lý; sao chủ mệnh và sao chủ thân; vòng an tiểu vận (nam theo chiều thuận kim đồng hồ, nữ ngược chiều kim đồng hồ).

Thường có 3 đường kẻ từ cung Mệnh tới cung Quan lộc, Thiên di và Tài bạch thể hiện mối tương quan giữa gốc mệnh và các cung chính của lá số.

Phần thiên định của lá số, ghi dữ liệu về thời gian ra đời của mỗi người. Đây là phần cố định, bất di bất dịch trên lá số. Muốn xem Thiên bàn phải có phương pháp riêng để tra cứu, tìm hiểu; nó là phần thông tin mang tính định hướng, tham khảo cho phần thông tin từ địa bàn và nhân bàn. Phần quan trọng nhất là Bát tự (8 chữ Can-Chi) hoặc Tứ trụ (4 trụ năm, tháng, ngày, giờ sinh). Trong giai thoại về Tử vi có câu: "Tử vi mà nếu có lầm. Thì mang Tam thế diễn cầm mà tra" chính là việc khi xem lá số gặp phải một số trường hợp khó đánh giá thì sử dụng các thông tin ở phần Thiên bàn đối chiếu với các nội dung trong Tam thế diễn cầm để làm rõ hơn.

Địa bàn

Gồm 12 cung: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi theo chiều kim đồng hồ. Các cung này là cố định trên lá số, nếu dung bàn tay trái, thì ngấn dưới cùng bàn tay, tức gốc chỗ ngón đeo nhẫn là Tý, gốc ngón giữa là Sửu, gốc ngón trỏ là Dần, cho đến cung Hợi ở gốc ngón út. Địa bàn là nơi các cung nhân bàn luân chuyển.

Cung cố định trên lá số gồm 12 cung là Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất và Hợi. Các cung địa chi này có nhiều thông tin như ngũ hành, phương vị, màu sắc, con số, tuổi, các quy ước khác để làm cơ sở luận đoán số. Lưu Thái tuế chính là tên của các cung này khi xem tiểu vận 1 năm. Tương quan giữa sao và địa bàn mà ra miếu, vượng, đắc, bình hòa, hãm.

Các thông tin được quy ước cho 12 cung địa bàn hay gọi là 12 cung Địa Chi gồm: tên gọi, ngũ hành, phương hướng, lục phủ ngũ tạng, màu sắc, mùi vị,... theo như bảng quy ước ngũ hành. Đây chính là thông tin cơ sở để giúp cho việc luận đoán lá số được phong phú, chi tiết.

Nhân bàn

Gồm 13 cung hay lĩnh vực liên quan đến mỗi con người: Phúc đức, Phụ mẫu, Mệnh, Bào đệ, Phu, Thê, Tử tức, Điền trạch, Quan lộc, Nô bộc, Thiên di, Tật ách, Tài bạch và cung Thân. Cung Thân là cung ký gửi vào các cung như Phúc đức, Mệnh, Phu/Thê, Quan lộc, Thiên di và Tài bạch. Các cung số của Tử vi có thể thay đổi vị trí đóng trên cung địa bàn tuỳ theo dữ liệu ngày giờ tháng năm sinh của đương số. Trong mỗi ô sẽ có chứa các sao và độ số của cục lá số; giữa 2 cung có thể có Tuần, hoặc Triệt án ngữ vào đó.

Nhân bàn gồm 12 cung theo chiều kim đồng hồ: Mệnh, Phụ mẫu, Phúc đức, Điền trạch, Quan lộc, Nô bộc, Thiên di, Tật ách, Tài bạch, Tử tức, Phu, Thê, Bào đệ. Vòng lưu đại vận 10 năm, trong phần mềm lập lá số thì chỉ ghi thời điểm bắt đầu, ví dụ, thủy nhị cục thì ghi số 2 ở cung mệnh, cung tiếp theo (có thể thuận, có thể nghịch) là 12, 22, 32... Dương nam, âm nữ an thuận chiều kim đồng hồ, âm nam, dương nữ an nghịch chiều kim đồng hồ. Độ số của cục (2 -- thủy, 3 -- mộc, 4 -- kim, 5 - thổ, 6 -- hỏa là các số sinh, còn số thành tương ứng là: 7, 8, 9, 0, 1) Vòng lưu vận tháng của năm xem hạn.

Cung Nhân bàn chính là các lĩnh vực liên quan tới một cá nhân; khi muốn biết thông tin gì thì tìm xem nó thuộc lĩnh vực nào, do cung nào quản lý rồi xem các sao trong cung phản ánh đặc điểm, tính chất gì rồi kết hợp với nhau mà luận đoán.

1) Cung Phúc đức chủ về phúc đức, dòng họ, đại gia đình, âm phần, thờ tự, ngành nghề, lĩnh vực phụng sự trong xã hội, là cung quan trọng nhất trong Tử vi, có ảnh hưởng chi phối đến 11 cung số còn lại. Các nội dung bao gồm: tổng quan về dòng họ, ông bà, cha mẹ, sự thịnh suy của một dòng họ và bản thân; mồ mả, nơi thờ tự, nhà thờ; tuổi thọ và sức khỏe; nhân quả đời trước, đời nay; công danh, sự nghiệp của dòng họ, bản thân; tiền bạc, tài sản vật chất; nhân duyên, hạnh phúc, gia đạo, con cái; họa hại, tai ách trong đời. Phúc đứccòn là đất nước, ngành/lĩnh vực làm việc, truyền thống, bề trên, cấp trên cách cấp của mình trở lên, lãnh đạo cấp cao...Các vấn đề khác liên quan đến dòng họ, ông bà, cha mẹ, gia đình, ngành nghề, lĩnh vực,...

2) Cung Phụ mẫu chủ về cha mẹ, thầy cô, cấp trên, người ngang vai vế với cha mẹ, người lớn tuổi. Các nội dung bao gồm: hình dáng, tướng mạo, tính tình hoặc các đặc điểm nổi bật của cha mẹ; tuổi, tuổi thọ, sức khỏe của cha mẹ; mối quan hệ giữa cha mẹ với nhau, với bản thân; công danh sự nghiệp, ngành nghề, tài chính của cha mẹ. Ra ngoài xã hội là quan chức chính quyền, là người trên, ở nơi làm việc là lãnh đạo trực tiếp. Các vấn đề khác liên quan đến cha mẹ, thầy, cấp trên.

3) Cung Mệnh và Thân là hai cung chính có vai trò quan trọng trong lá số Tử vi, đề cập tới bản thân mỗi người. Các nội dung gồm có tướng mạo, hình dáng; tính nết, khả năng, năng khiếu; tuổi thọ, sức khỏe, bệnh tật, các loại tai họa, tai hại ảnh hưởng đến bản thân; công danh sự nghiệp, nghề nghiệp, tài chính; tình cảm, nhân duyên,   nhân,... Quan niệm truyền thống thường nhấn mạnh đối với nam giới thường gồm ba lĩnh vực: Bản thân (Mệnh), công danh sự nghiệp (Quan lộc) và tài chính, tiền bạc (Tài bạch); trong khi, đối với nữ giới thường là chồng (Phu), tài chính (Tài) và con cái (Tử tức).

Cung Thân là cung mà từ khi lập thân, trưởng thành của con người nó có tác động, ảnh hưởng lớn đến đời sống của cá nhân đó. Cung Thân là cung "nương nhờ" các cung khác dựa vào giờ sinh: Sinh giờ Tý và Ngọ có Thân Mệnh đồng cung, tiền vận gieo gì hậu vận gặt đó; sinh giờ Sửu và Mùi cung Thân ở cùng cung Phúc, nhờ phúc ấm tổ tiên, gia đình, dòng họ; sinh giờ Dần và Thân thì Thân ở cùng cung Quan lộc, vấn đề công danh, sự nghiệp có sự chi phối lớn đến đời sống của cá nhân, nhất là trung vận trở đi; sinh giờ Mão và Dậu, cung Thân ở cùng cung Thiên di, môi trường xã hội có tương quan chặt chẽ với cá nhân; sinh giờ Thìn và Tuất, cung Thân ở cùng cung Tài bạch, vấn đề tiền bạc có mối tương quan lớn đối với đời sống cá nhân về sau; sinh giờ Tị và Hợi, cung Thân ở cùng cung Phu, Thê, chuyện hôn nhân, quan hệ vợ chồng có chi phối, ảnh hưởng lớn tới đời sống.

4) Cung Bào đệ là cung chủ về anh em của mình, gồm cả anh chị em bên chồng bên vợ, anh em dị bào, kết nghĩa, bạn bè chí cốt, thân tình. Các nội dung bao gồm: số lượng anh chị em, trai, gái; thứ tự của bản thân trong gia đình: trưởng, giữa, út; trưởng nam; trưởng nữ...; quan hệ giữa các anh chị em trong gia đình như gắn bó, đoàn kết hay ly tán, hình khắc, khắc khẩu, không hợp nhau; sự thành đạt của anh chị em trong gia đình; sự tương trợ, ảnh hưởng lẫn nhau; các vấn đề khác liên quan đến anh chị em.

5) Cung Phu Thê, đối với nam gọi là cung Thê thiếp, đối với nữ gọi là cung Phu quân. Cung này chủ về tình cảm yêu đương, hôn nhân, vợ chồng, quan hệ vợ chồng của mỗi người. Các nội dung gồm có thời gian lập gia đình; tuổi vợ, chồng, tính tình và tướng mạo; tình trạng hôn nhân, tâm lý, tình cảm, tình dục;  nghề nghiệp và sự thành đạt của vợ, chồng; số lần lập gia đình, hay cô đơn, cô quả; quan niệm của đương số về hôn nhân, gia đình, tiêu chí chọn bạn đời; các vấn đề khác liên quan đến hôn nhân.

6) Cung Tử tức chủ về thế hệ tương lai, kế cận của mỗi cá nhân, chủ về con cái, cháu chắt, cấp dưới, đệ tử, học trò, trẻ em. Các nội dung gồm có: thời điểm có con; số lượng con; giớ tính của con; tình trạng sinh con, nuôi dưỡng, giáo dục, trưởng thành của con cái; sự ảnh hưởng của con cái đối với bản thân từ nhỏ tới lớn; mối liên hệ của con cái (có con hay không, con đẻ, con nuôi, đỡ đầu,...); mối quan hệ của cấp dưới, học trò, đệ tử đối với bản thân...

Từ cung Phúc đức tới cung Tử tức gọi là lục thân (6 mối quan hệ trong gia đình), phản ánh tình hình truyền thống gia đình, nề nếp gia phong, đoàn kết hay tụ tán, thịnh phát hay suy tàn,...

7) Cung Điền trạch chủ về nhà cửa, đất đai, tài sản, nơi làm việc, đồ dùng, đồ vật của bản thân hoặc liên quan đến bản thân. Điền trạch tương ứng với điền là đất thổ cư và trạch là đất ruộng. Các nội dung bao gồm: thực trạng và đặc điểm của nhà cửa, tài sản, vật chất, phương tiện; có nhà đất, tài sản, phương tiện hay không, thời gian có nhà đất, tài sản, phương tiện  riêng; cách gây dưng tài sản; số lượng tài sản; mức độ tụ, tán, thịnh suy, nơi ở có đắc địa hay không; số nhà, số xe, số điện thoại,... Các cấp độ nhà cửa, bất động sản, động sản, tài sản khác, đồ đạc, vật chất, đồ vật, tràng thiết bị, đồ gia dụng, quần áo của bản thân, hoặc liên quan đến bản thân; nơi làm việc vị trí, đặc điểm nơi làm việc, ngành nghề, lĩnh vực, quan hệ nơi làm việc; các vấn đề liên quan tới hộ khẩu, hộ tịch, quốc tịch; hồ sơ, giấy tờ, bằng cấp, chứng chỉ...; các vấn đề khác liên quan nhà cửa nơi ở, nơi làm việc.

8) Cung Quan lộc chủ về công danh, sự nghiệp, những triển vọng của nghề nghiệp và những khả năng chuyên môn của chính mình. Các nội dung bao gồm: loại hình công việc, vị trí công tác; quá trình công tác, làm việc: thời kỳ nào phát, thời kỳ nào bại; làm nhiều nghề hay ít nghề; an nhàn hay vất vả; có tiền ít hay có nhiều tiền từ công việc; nơi làm việc; cách thức làm việc; sự thành bại, may mắn, rủi ro trong công việc, sự nghiệp; mối quan hệ đồng nghiệp, cộng sự; các vấn đề khác liên quan đến ngành nghề, lĩnh vực làm việc.

9) Cung Nô bộc chủ về bạn bè, cộng sự, giúp việc, cấp dưới, đồng nghiệp, khách hàng, những người tiếp xúc trong xã hội. Các nội dung bao gồm: quan hệ giữa bản thân và bạn bè, đồng nghiệp, những người khác có tiếp xúc xã hội; khi xét hôn nhân lần hai hoặc nhiều lần thì xem cung Nô bộc để biết thêm thông tin; tình trạng hợp tác, kết hợp, cộng tác trong làm ăn, công việc. Các vấn đề liên quan đến Nô bộc, bạn bè, cộng sự, đồng nghiệp.

10) Cung Thiên di chủ về đi xa, đi ra ngoài, di chuyển, xuất ngoại, môi trường xã hội, tiếp xúc xã hội, biểu hiện, hình ảnh của cá nhân trong môi trường xã hội. Nội dung gồm có môi trường xã hội, quan hệ xã hội, tiếp xúc xã hội, các công việc ngoài xã hội, nơi làm việc; đi xa, xuất ngoại, nơi sống, làm việc xa gia đình; những sự may rủi hay giúp đỡ của người ngoài. Có thể dùng để xem như một hình ảnh cung Mệnh khi cung mệnh vô chính diệu theo kiểu xem ngọn cây biết gió.

11) Cung Tật ách phản ánh về họa và hại đối với mỗi cá nhân, nó còn là cung mệnh thứ hai hoặc mệnh ẩn, nên cũng có thể xem xét các dữ liệu như cung Mệnh (hình tướng, tính cách, khả năng,...). Đối với góc độ bệnh tật đánh giá những bệnh lý liên quan tới bản thân; những rủi ro, nguy hiểm do môi trường bên ngoài mang lại cho bản thân. Xác định rõ được họa, hại thì biết nguyên nhân, dùng ngũ hành sinh khắc, tu sửa bản thân thì tránh được mức độ nhẹ hoặc giảm được mức độ ảnh hưởng mức độ nặng. Các vấn đề khác liên quan tới họa hại, bản thân.

12) Cung Tài bạch chủ về tiền bạc, tài chính, nguồn thu nhập, cũng là gián tiếp phản ánh ngành nghề của mỗi cá nhân. Các nội dung gồm: mức độ sở hữu tiền bạc, tài chính; quan niệm về tiền bạc, vị trí công việc; cách kiếm tiền, chi tiêu tiền bạc, ngành nghề, lĩnh vực hoạt động, làm việc của bản thân; họa phúc liên quan tới tài chính, tiền bạc; các vấn đề khác liên quan đến tiền bạc.

Chương 5 — SAO TRONG TỬ VI

Khái niệm về sao

Phát triển trên nền tàng kiến thức về thiên văn, nên môn Tử vi dùng các ngôi sao để biểu thị cho các đặc điểm, sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và đời sống con người. Thông qua dữ liệu thời gian sinh ra của mỗi cá nhân mà các sao được sắp xếp theo những quy luật nhất định, từ đó tạo thành bố cục có tính ảnh hưởng đến đời sống con người. Hệ thống sao được phát triển và bổ sung thêm trong quá trình lịch sử phát triển của Tử vi. Những tài liệu Tử vi truyền thống của Việt Nam được lưu truyền đến hiện tại mang dấu ấn của Nam phái do có sự khác biệt về một số sao phụ so với các trường phái Tử vi ở Trung quốc.

Tùy theo cấp độ thời gian năm tháng ngày giờ mà sao sẽ ở tại một cung nào đó trên địa bàn. Sao thường tương tác, phối kết hợp với nhau thành bộ và tạo thành các đặc điểm, sự việc, hiện tượng, diễn biến có tính đặc trưng, điển hình khi gắn với tên cung Nhân bàn nhất định. Sao chính là nội dung chi tiết khi xem xét các vấn đề cần đánh giá. Sao toạ thủ thường có tác dụng mạnh nhất đối với cung nó đóng và có tác động tương tác với các cung xung chiếu, tam hợp, nhị hợp khi đi theo bộ. Ví dụ, cung Sửu có sao Tử vi và Phá quân thì gọi là Tử Phá tọa thủ tại cung Sửu, có ảnh hưởng lớn nhất đối với cung Sửu; khi có thêm các sao Bạch hổ và Hoa cái trong cung Sửu và các sao Long trì tại Dậu và Phượng các tại Tị chiếu về sẽ thành bộ Tứ linh hội chiếu về cung Sửu.

Chính tinh hay gọi là sao chính, các sao này có thể đứng một mình hoặc đi với sao chính khác tùy theo vị trí của sao Tử vi.

Phụ tinh hay gọi là sao phụ, gồm các sao nhỏ thường chia thành 2 nhóm là cát tinh/sao tốt và hung tinh/sao xấu. Sự phân chia này mang tính quy ước cho dễ phân biệt, trong thực tế việc đánh giá sao tốt hay xấu còn phụ thuộc vào tình huống cụ thể, đôi khi cát tinh chưa chắc tốt, hung tinh chưa chắc xấu mà phải xem vào công dụng/ảnh hưởng của chúng như thế nào trong bối cảnh chung.

Cát tinh, hay gọi là sao lành, sao tốt có ảnh hưởng theo xu hướng tích cực, thiện lương, cứu giúp khi cần thiết, mang lại điều tốt lành. Trong phần mềm an lá số được sắp xếp ở phía bên trái mỗi cung.

Sát tinh, hung tinh là các sao có tính chất mạnh mẽ, dứt khoát, ứng với các sự việc có tính nặng nhọc, vất vả, nguy hiểm, có tính sát phạt, gây thương tích, họa hại. Ám tinh, bại tinh là các sao có tính chất bí mật, kín đáo, ngầm, không bộc lộ ra bên ngoài, có tính chất thoái lui, rút bớt, lưu chuyển, hủy hoại, làm hỏng, mất mát, hao hụt, có tính tiêu cực. Trong phần mềm an lá số được sắp xếp ở phía bên phải mỗi cung.

Hung tinh độc thủ là trong cung vô chính diệu có các sao Kình dương hoặc Đà la hoặc Thiên hình, các sao này sẽ phát huy uy lực trong cung đó.Ảnh hưởng hay phát tác của các sao được biểu thị qua các cấp độ: miếu địa, vượng địa, đắc địa, bình hòa và hãm địa. Các mức độ này chủ yếu quan trọng đối với các sao chính (14 sao), trong đó đặc biệt quan trọng đối với 2 sao là Thái dương và Thái âm, biểu thị cho ánh sáng hoặc ngày và đêm.

Các bộ sao

Môn Tử vi có 110 sao gồm 14 sao chính và 96 sao phụ. Sao chính là 6 sao thuộc bộ Tử vi và 8 sao thuộc bộ Thiên phủ, các sao còn lại gọi là sao phụ. Các sao trong Tử vi tương tác với nhau tạo thành các bộ sao, cách cục sao để hình thành nên những sự việc, hiện tượng xảy ra trong cuộc sống. Việc tìm hiểu Tử vi không thể tách rời với thuộc tên các sao và đặc tính của chúng. Chỉ có thực hành nhiều với phương pháp đúng mới giúp người học hiểu sâu hơn về Tử vi.

Bộ Tử vi là đứng đầu của môn Tử vi gồm 6 sao: Tử vi, Thiên cơ, Thái dương, Vũ khúc, Thiên đồng, Liêm trinh. Trên lá số là đếm ngược chiều kim đồng hồ, đi ngược tức thể hiện cho trời, có tính quyết định, chi phối lớn.

Bộ Thiên phủ, sao Thiên phủ đối xứng với sao Tử vi qua trục Dần Thân, gồm 8 sao: Thiên phủ, Thái âm, Tham lang, Cự môn, Thiên tướng, Thiên lương, Thất sát, Phá quân, đếm theo chiều kim đồng hồ trên lá số, đi xuôi thể hiện cho đất.

Hai bộ sao Tử vi và Thiên phủ được gọi là các chính tinh, được chia thành các nhóm như: nhóm lãnh đạo gồm Tử vi, Thiên phủ, Vũ khúc, Thiên tướng (gọi tắt là Tử Phủ Vũ Tướng), nhóm văn đoàn gồm Thiên cơ, Thái âm, Thiên đồng, Thiên lương (gọi tắt là Cơ Nguyệt Đồng Lương), nhóm võ cách/hành động gồm Thất sát, Phá quân, Liêm trinh, Tham lang (gọi tắt là Sát Phá Liêm Tham), và nhóm quyền cách gồm Thái dương và Cự môn (gọi tắt là Cự Nhật).

Bộ Bác sĩ an theo thiên can của năm sinh (10 can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) gồm 12 sao: Bác sĩ, Lực sĩ, Thanh long, Tiểu hao, Tướng quân, Tấu thư, Phi liêm, Hỷ thần, Bệnh phù, Đại hao, Phục binh, Quan phủ và 5 sao an kèm theo gồm: Lộc tồn, Kình dương, Đà la, Quốc ấn, Đường phù. Lưu ý rằng, Bác sĩ là sao có trí tuệ, tài năng, bản lĩnh và phẩm hạnh tốt mới là sao đứng đầu của thiên can chứ không phải Lộc tồn là sao có tính thụ hưởng, dự phòng được bảo vệ nghiêm ngặt bởi hai sao Kình Đà như các sách hay đề cập.

Bộ Thái tuế an theo địa chi của năm sinh (12 chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi) gồm 13 sao: Thái tuế, Thiếu dương, Tang môn, Thiếu âm, Quan phù, Tử phù, Tuế phá, Long đức, Bạch hổ, Phúc đức, Điếu khách, Trực phù  và Thiên không (tên gọi đúng là Địa không -- vì an theo địa chi).

Bộ Trường sinh an theo cục của lá số (bắt đầu từ 1 trong 4 cung Dần, Thân, Tị, Hợi) gồm 12 sao: Trường sinh, Mộc dục, Quan đới, Lâm quan, Đế vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, và Dưỡng.

Các sao an theo can: 13 sao là Tứ hóa (Hóa lộc, Hóa quyền, Hóa khoa, Hóa kị), Thiên khôi, Thiên việt, Thiên quan quý nhân, Thiên phúc quý nhân, Tuần, Triệt, Lưu hà. Hai sao Hỏa tinh và Linh tinh được an theo cả can và giờ sinh.

Các sao an theo chi: 17 sao là Long trì, Phượng các, Thiên đức, Nguyệt đức, Hồng loan, Thiên hỉ, Thiên mã, Hoa cái, Đào hoa, Phá toái, Kiếp sát, Cô thần, Quả tú, Hỏa tinh, Linh tinh, Thiên khốc, Thiên hư.

Các sao an theo tháng: 7 sao là Tả phù, Hữu bật, Thiên hình, Thiên giải, Địa giải, Thiên riêu, Thiên y.

Các sao an theo ngày: 4 sao là Tam thai, Bát tọa, Ân quang, Thiên quý.

Các sao an theo giờ: 6 sao là Văn xương, Văn khúc, Thai phụ, Phong cáo, Địa không, Địa kiếp.

Các sao cố định: 4 sao là Thiên thương (cung Nô), Thiên sứ (cung Tật), Thiên la (cung Thìn), Địa võng (cung Tuất). Những sao này có ảnh hưởng như thế nào thì còn phải nghiên cứu, khảo xét thêm.

Các sao an theo các cấp độ thời gian khác nhau thì sẽ phát mạnh theo cấp độ thời gian vận tương ứng. Ví dụ, sao an theo năm sẽ ảnh hưởng chi phối cả năm, an theo tháng sẽ chi phối, ảnh hưởng cả tháng, sao an theo ngày sẽ phát tác mạnh vào ngày, còn sao theo giờ thì có khi chỉ trong khoảnh khắc xảy ra đã có thể để lại hậu quả lớn. Các sao thường hay đi theo cặp, phản ánh tính âm dương một cách điển hình.

Việc phân loại về sao ra nhằm mục đích cho việc tìm hiểu các sao được dễ dàng và hiểu sâu hơn về các đặc điểm. Tuy nhiên, khi luận đoán phải kết hợp các yếu tố lại, kết hợp cung và sao thì mới có được những nhận định đầy đủ, khoa học và chính xác, tránh tình trạng "thầy bói xem voi". Luận đoán chính là việc phân tích, đánh giá, giải thích một cách hợp lý các vấn đề mâu thuẫn trên lá số.

Vị trí của sao và mức độ ảnh hưởng

Các sao chính và một số sao phụ khi được an vào các cung địa bàn thường có chịu ảnh hưởng với các mức độ khác nhau, đó chính là yếu tố "địa lợi" của sao theo các cấp độ:

Miếu địa: Vị trí tốt đẹp nhất đối với một sao. Miếu địa ví như nơi mà sao đó được thờ kính.

Vượng địa: Vị trí thuận lợi và có thể phát huy những đặc tính tốt đẹp đối với một sao.

Đắc địa: Vị trí tốt để phát huy những đặc tính tốt đẹp và phù hợp đối với một sao.

Bình hòa: Vị trí không làm cho sao thêm sáng sủa, mà cũng không làm cho sao thêm mờ ám.

Hãm địa: Vị trí không phát huy được các đặc tính tốt của sao, nhưng lại có thể bộc phát ra những đặc tính không tốt của sao đó.

Đặc điểm của các sao chính

Sao Tử vi

Đặc tính ngũ hành thuộc thổ, có màu vàng kim lấp lánh. Tượng và ý nghĩa chủ về vua chúa, thủ lĩnh của các hệ sao trong môn Tử vi nên người xưa mới lấy môn học bằng tên của sao này. Tử vi là vua, chúa, lãnh đạo, thủ lĩnh, người đứng đầu các tôn giáo, môn phái, có địa vị tối cao, có quyền uy, uy nghi, then chốt, thần thái vững vàng, cẩn trọng, kín đáo, đầu não, trọng yếu, ...

Hình tướng đẹp đẽ, sang trọng, uy nghi, bệ vệ, đài các, thần thái ổn định, vững vàng. Đó là những nét chính có thể là hình tướng, thần tướng hoặc khí sắc, mặt hồng hào, lưng đầy, dù cao thấp đều có tính cân xứng, thường ứng với các hình tướng long, phượng, sư tử,... Tướng Tử vi trong sách chỉ nói "Tử vi mặt đỏ lưng dày. Tính tình trung hậu người đầy phương viên". Phân tích riêng rẽ, chuyên sâu về Tử vi thì phải phối hợp với lý thuyết nhân tướng học. Tử vi là đế tinh, vua, đứng đầu, thủ lĩnh nên các nét tướng phải thể hiện được tính chất vua, thủ lĩnh, đứng đầu như uy nghi, bệ vệ, các nét tướng trên mặt (ngũ quan) phải đầy đủ, đúng phẩm chất, sang trọng, phong thái ung dung, tự tại, khoan thai, tiếng nói vang, có lực, trí tuệ linh mẫn, thông minh, tâm cơ kín đáo. Khi động thì mạnh mẽ, dứt khoát, khi tĩnh thì như núi cao đồ sộ, vững vàng. Ví dụ, trán cao, rộng, nhìn có thế, lực. Lông mày rồng, mắt rồng, mắt phượng, mắt sư tử, ánh mắt uy nghi, sáng, thần khí mạnh. Mũi rồng, mũi sư tử, mũi phải vướn lên, nhìn có thế, lực, thẳng. Miệng có lăng, có giác (viền và khóe miệng). Tính tình điềm đạm, thông minh, kín đáo, mưu lược, khéo léo, giỏi ngoại giao, có khả năng lãnh đạo, xử lý các vấn đề, quyết đoán,…

Địa điểm trung tâm, trung ương, ở giữa, vị trí then chốt, đầu não. Thời gian, diễn biến: thường không nhanh không chậm, hay đạt được chữ đúng thời điểm.

Sao Thiên cơ

Đặc tính ngũ hành thuộc mộc, có màu xanh. Tượng và ý nghĩa là cơ trời, máy móc, tượng là cơ trí hoặc cơ bắp, quân sư hoặc võ sư, những người về thể thao và nghệ thuật, khéo léo, các đồ dùng, dụng cụ hỗ trợ về vận động, thiết bị hỗ trợ, phụ trợ, có tính kết nối, sự vận động, vận hành của vạn vật,... Thiên cơ là sao đi liền kề với vua Tử vi nên thường là người có hình thức ưa nhìn, nhanh nhẹn, khéo léo, hiểu ý người khác nhưng vẫn kín đáo. Phân tích theo chữ "cơ" sẽ gồm cơ trí, đa mưu túc kế, thông minh, khéo léo, trán cao, gương mặt thanh tú, ưa nhìn. Nhiều người có xu hướng hói, mặt bầu dục, trái xoan, minh thanh, mắt sáng, cơ đầy, da thịt nẩy nở. Cơ bắp, máy móc, thiết bị, vận động thì thường khéo léo chân tay, ngón chân tay dài, thuôn, hành động có tính cách điệu, nghệ sĩ, hệ cơ nảy nở, vận động nhanh nhẹn, có năng khiếu về thể thao, điều khiển, vận động, nghệ thuật, kỹ nghệ. Các thớ thịt nổi, nẩy nở trên mặt, chân tay có thể không to nhưng cơ bắp nổi, đẹp. Thiên cơ có tính quyền biến, linh hoạt, nên đôi khi có tính láu cá, khôn lỏi, giả khờ. Cách ứng xử rất khéo, biết lấy lòng người và thường hay ở gần, cận kề cha mẹ, cấp trên.

Hình tướng là xương thịt cân xứng, nảy nở, có cơ bắp tốt, thường dáng cao, thể thao, trán hói, trán cao, ngược lại thì dáng mảnh, yếu đuối. Về bệnh lý thường bệnh về cơ, hen suyễn,... Tính tình nhanh nhẹn, tháo vát, cơ trí, khéo, xảo trá, khéo biết ý người, thường được bề trên yêu mến.

Vị trí, địa điểm là sao đứng sát ngay Tử vi đế tinh nên hay gần cha mẹ, lãnh đạo, ở gần "cung điện, nhà vua, quan". Thời gian, diễn biến là sớm, đầu, mới, bất ngờ, nhanh chóng, hoặc có kế hoạch, cơ biến.

Sao Thái dương

Đặc tính ngũ hành thuộc hỏa, có màu đỏ. Tượng và ý nghĩa là mặt trời, nam giới, dương, quyền lực, chính quyền, chính trực, chủ là ông, cha, mắt, năng lượng, thần kinh, đèn, ánh sáng, văn minh. Thái dương chủ về dương khí, ánh sáng, năng lượng, công khai, thẳng thắn, liêm chính, nam giới. Về hình tướng, Thái dương chủ về mắt, có thể hơi đỏ, quyền nhọn, tóc mướt, mũi thẳng, tính sẽ rất thẳng, nóng. Nam giới thường được nữ giới yêu mến, ngưỡng mộ, nữ giới có sao Thái dương thì hay giao lưu, tiếp xúc, chơi với nam nhiều hơn. Hình tướng thường có hai dạng điển hình: gầy nhẳng, mắt lộ hoặc hơi lồi, mắt đỏ, mày thưa, gân cốt lộ; người mập mạp, che hết xương nhưng cơ thể cân đối, có khả năng uống rượu tốt, hay hút thuốc, râu tóc tốt, đen, thẳng, cứng thể hiện dương khí mạnh.

Hình tướng thường có hai dạng tướng: gầy xương xẩu, mắt lộ, hoặc mắt đỏ, xương có thể lộ, hoặc trông các đầu xương lộ ra; hoặc trông uy nghi, nam tính, được phụ nữ mến mộ. Bệnh lý thường ứng về thần kinh, mắt, năng lượng, nhiệt. Tính tình thẳng thắn, trung thực, nóng nảy, ưa quyền lực, lãnh đạo, không chịu khuất phục, đôi khi hay nói lời thật mất lòng.

Địa điểm ở trên, bên ngoài, mặt sáng, rõ ràng. Thời gian, diễn biến ứng với ban ngày, thời gian sáng, hoặc ban đầu,nhanh, rõ ràng, đàng hoàng, công khai, minh bạch, thẳng thắn.

Sao Vũ khúc

Đặc tính ngũ hành thuộc kim, có màu trắng. Tượng và ý nghĩa chủ về tiền bạc, chuyên gia tài chính, vũ đạo, nghệ thuật, kỹ thuật, võ thuật, kỹ nghệ, thiết bị tinh xảo,…

Hình tướng thường dáng người cân đối, đầy đặn, mặt vuông vắn, sắc nét như cằm vuông hoặc cằm chẻ, trán vuông, có viền, có cạnh, mắt đen lay láy hoặc mắt ướt, mắt  một mí, mũi thanh tú, cánh mũi tròn trịa. Tính tình kín đáo, hướng nội, một mình nhưng không cô đơn, tự chủ, lời nói chừng mực, tự tại, có tầm nhìn, có chính kiến, đôi khi làm việc mà cảm xúc không bị người khác chi phối hoặc không cần chú ý tới cảm xúc của người khác, đôi khi ích kỷ. Nếu chân tóc, tóc mai xanh, thẳng, khóe miệng sắc thì là người khôn ngoan sắc sảo, có chân tài thực học.

Địa điểm ở bên trong, ở gần, ở giữa hoặc nơi giao điểm, trung điểm, ví dụ, như điểm uốn con đường, khúc cua, giao lộ,… Thời gian, diễn biến ứng với giữa ngày, giữa tháng, giao mùa,chậm rãi, kín đáo, ngầm bên trong - thay đổi nội tại thay vì bên ngoài, khi đủ lượng sẽ biến đổi rất nhanh, thường có sự chuyển hướng (khúc xạ) khi vận gặp Vũ khúc.

Sao Thiên đồng

Đặc tính ngũ hành thuộc thủy, có màu đen, hoặc màu phối, màu pha. Tượng và ý nghĩa là cùng, bằng, trẻ, dễ hòa đồng, thích nghi, thay đổi, đám đông, kết nối, có tính tập thể, cộng đồng. Đây là sao có tính dung hòa cao, dễ tiếp nhận, pha trộn với tính cách với các sao khác. Thiên đồng có hình dáng hoặc tính nết hòa đồng, trẻ trung so với tuổi, vui tươi thường hưởng phúc lộc, Thiên đồng có khả năng kết nối tốt nên khi gặp bộ phúc tinh (Ân quang, Thiên quý) và bộ Lộc (Lộc tồn, hóa Lộc) thì tài lộc tăng tiến, giầu có. Cũng vì có khả năng kết nối cao nên dễ là người có khả năng kết nối âm, dương (hầu đồng, vong nhập, tâm linh linh mẫn, nhạy bén,...) khi gặp bộ Hỏa tinh và Linh tinh.

Hình tướng thường người trẻ so với tuổi, xương ít thịt nhiều, có thể mập, hoặc mắt nhỏ so với mặt,… Tính tình hòa đồng, dễ mến, khả năng kết nối tốt, khéo léo, thích nghi nhanh, hay thay đổi, thậm chí tính đồng bóng thất thường, tính hồn nhiên, dễ chia sẻ, dễ gây thiện cảm với người khác, hoạt ngôn, ưa bông đùa, hay được người chia sẻ, có thể kết nối với nhiều người, quảng giao.

Địa điểm thường là nơi rộng rãi, chung, giao lưu, quảng trường, sân, cánh đồng, nơi tập trung đông người, nhà ga,… Thời gian, diễn biến ứng vào thời gian đầu, nhanh chậm tùy lúc, nương theo, có tính hỗ trợ, phối hợp với các sao khác rất mạnh.

Sao Liêm trinh

Đặc tính ngũ hành thuộc hỏa, có màu đỏ. Tượng và ý nghĩa là liêm khiết, ngay thẳng, uy nghi, dũng mãnh, can đảm, bất khuất, tướng trấn giữ biên cương, thuộc bộ dựng nước, xa xôi, ven, rìa, bảo vệ. Đây là sao ở xa nhất của bộ Tử vi, trong thế tam hợp với Tử vi, ở xa nhưng được tín nhiệm giao trọng trách giữ biên cương. Liêm trinh vốn như tên gọi của nó có chữ liêm đứng đầu nên là người ngay thẳng, liêm khiết, rất coi trọng chữ tín, đã hứa là làm, dù gian nan vất vả, hy sinh bản thân cũng phải làm cho được, thà chết chứ không chịu bất trung bất tín. Liêm trinh còn hội tụ đức tính dũng cảm, khí khái, trọng nghĩa, là một đấng anh hùng đích thực, vì việc chung mà gác tình riêng. Chính vì những đặc điểm này mà Liêm trinh nhận được sự ngưỡng mộ của mọi người, đặc biệt là nam nhân có sao Liêm trinh ở mệnh thì hay được nữ nhân yêu mến, ngưỡng mộ, đó là lý do tại sao sách vở Tử vi hay nói Liêm trinh là đào hoa tinh. Khi Liêm trinh hãm địa thì mới có xu hướng tiêu cực như bất trung, bất nghĩa, bất tín tùy từng điều kiện hoàn cảnh vận. Vì đặc tính này mà hay sinh ra cố chấp, dễ tự ái, khó thay đổi, làm việc bất chấp tuân thủ. Liêm trinh chỉ chịu sự chi phối của Tử vi là chính, còn các sao khác, sao phụ khó mà làm cho Liêm trinh thay đổi được; tức đánh giá Liêm trinh là phải nhìn vào thế của Tử vi.

Hình tướng thường người cân đối, tròn, trán cao, mắt tròn, mắt lồi hoặc lộ thần, sáng, hay nhìn thẳng, uy nghi, giọng nói vang, rõ ràng. Tính tình liêm khiết, chính trực, khái tính, nhanh nhẹn, hoạt bát, dễ tự ái, có lòng tự trọng, tự tôn rất cao, thà chết chứ không chịu nhục, chịu khuất phục. Liêm trinh hội tụ đủ các tính cách tín nghĩa trí dũng, đã hứa là làm cho bằng được.

Địa điểm ở xa, ven, ranh giới, biên giới, rìa,… Thời gian, diễn biến thường muộn, cuối ngày, cuối tháng, cuối năm, thường là cận ngày, chậm, muộn, cuối, xa.

Sao Thiên phủ

Đặc tính ngũ hành thuộc thổ, có màu vàng. Tượng và ý nghĩa là tể tướng, quản lý, quản gia, ông chủ, kho, bao bì, vỏ bọc, vật chứa,… thường có vai trò lãnh đạo, dẫn dắt, đi đầu. Chủ về lo toan trọn vẹn nên tâm bao giờ cũng chu toàn, lo lắng, hành động thì thận trọng, chắc chắn,… Đồ vật ứng với dinh thự của quan, phủ quan, công đường, vỏ bọc, túi, quần áo, bao, vỏ, những thứ bọc bên ngoài, những đồ chứa đựng,... Thiên phủ là sao có tính phủ rộng nhất trong các sao, không có gì nó không bao quát, bao phủ từ nhỏ tới lớn, từ xa tới gần. Các đồ vật, vật chất mà bao, bọc bên ngoài, phủ quan, công đường, nơi hội tụ của cộng đồng đều là tượng của Thiên phủ. Ví dụ, đối với người là quần áo bao bọc bên ngoài, là da, dạ dày, bàng quang; đối với củ, quả là vỏ; là bao, túi đựng, vật trùm bên ngoài, khí quyển, tường rào bao quanh... Người có Thiên phủ ở mệnh là có thể đặt niềm tin để giao công việc bởi tinh thần trách nhiệm, tính cách chu đáo, bao quát, vẹn toàn.

Hình tướng thường có nhiều dạng, đúng cách thì da rất đẹp, mặt đoan trang, ngay ngắn, tâm tính thì kín đáo, trầm mặc, nói gì thường ít, ngắn gọn nhưng hiệu quả, hiệu lực; người lo nghĩ nhiều quá, phiền não, khổ tâm thì có thêm điểm là hở lợi (cười hở lợi). Tính tình chu đáo, vẹn toàn, nghĩ trước tính sau, ôm đồm công việc, hoặc làm gì cũng thận trọng, hay lo lắng, quan tâm đến người khác.

Địa điểm là trung tâm, giữa, trụ sở, bao bọc. Thời gian, diễn biến liên quan đến toàn bộ quá trình, cả năm, cả tháng, cả ngày, chậm, chắc, cẩn thận, ôn hòa, kín đáo.

Sao Thái âm

Đặc tính ngũ hành thuộc thủy, có màu đen. Tượng và ý nghĩa là mặt trăng, nữ giới, mẹ, vợ, con gái, mắt, nội tạng, âm,… về vật chủ là đất đai, tài sản, đồ vật cơ bản, các vấn đề liên quan đến phụ nữ. Thái âm vốn chủ về âm nên khi nữ nhân có sao Thái âm ở Mệnh, Tật ách thường có hình dáng, tính nết thuần chất nữ như người nẩy nở, khả năng sinh sản tốt hoặc các mặt về công, dung, ngôn, hạnh. Đối với nam giới có Thái âm ở Mệnh thường được nữ nhân yêu mến, gần gũi, dễ tiếp cận hoặc hay làm các công việc tiếp xúc nhiều với nữ, liên quan tới nữ giới, thuộc về nữ, vật chất, các đồ vật, việc thuộc về cơ bản, nền tảng.

Hình tướng ưa nhìn, sau phát tướng, mập ra, nhất là phần hông, mông sẽ mập, bụng hoặc những bộ phận mang đặc tính nữ sẽ đầy đặn, đẹp. Tính tình mềm mỏng, khéo léo, dễ gần gũi hoặc thu hút với người khác giới.

Địa điểm ở trung tâm, phía dưới, nền tảng, gần trụ sở, đền đình. Thời gian, diễn biến: ứng về giữa về sau, đêm, tối, bên trong mạnh hơn bên ngoài, ngấm ngầm, kín đáo; bao quát, nền tảng cho mọi việc, nửa đầu thì nhẹ, chậm về sau nặng, nhanh.

Sao Tham lang

Đặc tính ngũ hành thuộc thủy, có màu đen. Tượng và ý nghĩa chủ về cầu toàn, đa cách, yêu cầu cao, tham lam, da thịt. Tính tình thường kỹ lưỡng, cầu toàn, yêu cầu, đòi hỏi nhiều hơn bình thường, không dễ thỏa hiệp. Trong sách thường hay nói Tham lang đa dâm, trộm cắp thì đó là một góc độ đặc tính xấu nổi bật, tuy nhiên trong thực tế còn là người có da có thịt, phồn thực, trông gợi dục trong mắt người khác giới hoặc ham mê tửu, sắc, hoặc có những công việc có tính phổ biến, hoặc bị coi là "thấp cấp" trong xã hội, nhưng lại là các việc ban đầu, nền tảng,… Ngoài ra, Tham lang là sao có xu hướng liên quan tới tâm linh, bói toán, tôn giáo, hoặc sự mê muội, tôn thờ, hoặc các hiện tượng siêu nhiên.

Hình tướng có điểm dễ nhận thấy là mặt hay sần sủi, nổi đỏ, nóng trong nổi mẩn mụn trên mặt, da trắng, hay có bệnh về da liễu, má núm đồng tiền, răng khểnh. Tính tình: kín đáo, cầu toàn, kỹ tính, chi tiết, tỉ mỉ, đôi khi hay sa vào tiểu tiết, đa mang, hãm lắm thì mới ra tham lận bất lương, tham lam vô độ, hoặc dám phá giới, phá luật

Địa điểm không xa, không gần, dưới thấp, chỗ trũng. Thời gian, diễn biến phần nhiều là ứng về muộn, giữa trở đi, cuối, gộp, dồn; chậm, chắc, đôi khi lỡ việc.

Sao Cự môn

Đặc tính ngũ hành thuộc thủy, có màu đen. Tượng và ý nghĩa là ngọc trong đá, cửa, cổng, mồm miệng, khiếu, lỗ, khe, những giá trị tiềm ẩn, thị phi, kiện tụng, pháp luật, công đường, chính quyền,… Cự môn là người có tính tình kín đáo, ở lâu mới hiểu hết tính nết, khó khăn mới bộc lộ bản chất, tài năng. Vì tượng là ngọc trong đá, nên trong xã hội hiện đại dễ gặp cảnh giải phẫu thẩm mỹ, can thiệp của y học để được đẹp hơn. Đôi khi hay bị động, hoặc vào những hoàn cảnh bất lợi mới bộc lộ hết năng lực, tài năng. Đây cũng là sao biểu thị cho "công môn, công đường" chính quyền, cơ quan hành chính, thực thi pháp luật, hoặc về ngoại giao, ăn nói, diễn thuyết.

Hình tướng thường mặt vuông, trông có nét cá tính, ấn tượng, kiểu người hơi dẹp, lưng hơi cong, nếu gặp sát tinh thì thường hay gặp thương tích, hoặc giải phẫu thẩm mỹ. Tính tình kín đáo, thâm trầm, nội tâm, nếu gặp tam ám hoặc vận kém thì hay gặp cảnh sinh không gặp thời, không được trọng dụng, khả năng ăn nói, ngoại giao tốt, đôi khi kiêu kỳ, tự kiêu, cá tính.

Địa điểm ở cửa, giao lộ, giao điểm, cổng, cửa khẩu, thất khiếu, công đường, cơ quan hành chính, chính quyền. Thời gian, diễn biến ứng về sau, chậm, kéo dài.

Sao Thiên tướng

Đặc tính ngũ hành thuộc thủy, có màu đen. Tượng, ý nghĩa: tướng nhà trời, đầu, mặt, hình tướng, hình dáng, thiên hướng dùng đức để thu phục lòng người, chất phác, nhân hậu, bao dung, nhẫn nhịn, ba phải, nhu nhược (đi từ đắc tới hãm); đặc biệt có khả năng co giãn, tương thích, tùy thuận rất cao. Thiên tướng chủ về dùng đức, nhân nhượng, bao dung không dùng lực để thu phục lòng người, xử thế nên thường có tính bao dung, nhường nhịn, chịu thiệt về mình, dù có sở thích riêng nhưng cũng dễ tùy thuận theo hoàn cảnh chứ không có tính cố chấp. Vì có tính tùy thuận, tính co giãn, linh hoạt cao mà Thiên tướng không có tứ hóa.

Hình tướng thường có sự bất cân xứng trên dưới, trước sau, trái phải như trên vai rộng thì phía dưới thu hẹp, vai so, vai xuôi nhỏ thì hông to, trên rộng dưới hẹp, hoặc trên hẹp dưới nở; đôi khi người lệch, không có sự cân xứng, cân đối trên mặt, dáng người. Tính tình linh hoạt, nhân hậu, bao dung, độ lượng, hảo ngọt, ham vui, nhu nhược, ba phải,… nhẫn nhịn.

Địa điểm, vị trí ở trung gian, giữa. Thời gian, diễn biến thường trước chậm sau nhanh, đủng đỉnh, khoan thai, hoặc nhanh ý chậm hành động, có tính dung hòa, hài hòa.

Sao Thiên lương

Đặc tính ngũ hành thuộc hành mộc, có màu xanh. Tượng và ý nghĩa của sao gồm thiện lương, hiền lành, phúc hậu, lương thực, thực phẩm, thiện tinh, phúc tinh, thọ tinh, mang lại niềm vui, hạnh phúc, ấm no cho người, cho đời. Thiên lương chủ về phúc thọ nên cần quan tâm về phát triển trí tuệ để phúc được sâu dày, thành người có đức có tài thì năng lực, khả năng sẽ giúp đời được hiệu quả hơn, không tranh mà được, ở hiền gặp lành.

Hình tướng thường người đậm, mặt mũi vuông vắn đầy đặn, da trắng, trông phúc hậu, có thể thêm tai dài, to, dầy, hiền lành. Tính tình thiện lương, nhân hậu, ưa nhàn nhã, ưa nhẹ nhàng, tình cảm, thanh nhàn, ung dung, không thích tranh đấu nên thường là Thiên lương có số hưởng. Sao chủ về đức độ, hiền lương nên khi có đầy đủ, đúng các đức tính thì sao này chủ về phú quý, an khang, mọi việc tốt tự đến, không tranh đoạt cưỡng cầu được. hay làm phúc, làm thiện, cứu giúp cho đời. Hợp với các ngành nghề về cứu độ chúng sinh, ngành y, giáo dục, dạy dỗ, tư vấn, bảo hiểm,...

Địa điểm ở trung tâm, đất lành, bình địa, chỗ ngồi không ai tranh mà lại được. Thời gian, diễn biến thường chậm, ứng nửa sau, khoan hòa, đủng đỉnh, không vội vàng, đôi khi thụ động, không tranh giành.

Sao Thất sát:

Đặc tính ngũ hành thuộc kim, có màu trắng. Tượng là kiếm sĩ, chủ về hành động chính xác, mau lẹ, quyết đoán, ngược lại thì hồ đồ, nóng vội, bộp chộp. Phú Tử vi nói "Thất sát mắt lớn rọi đèn" ngụ ý đây là sao có tính cương trực, thẳng thắn, dứt khoát, không chịu luồn cúi, nên khi gặp sao văn tinh tốt là sao có chính khí, mạnh mẽ, làm việc có cương có nhu, mềm mỏng mà dứt khoát, tập trung cao độ.

Hình tướng thường cao lớn, hoặc dong dỏng, mắt sáng, sắc, có người thì mắt dữ; đắc cách thì mắt đẹp, mặt dài; ánh mắt có tính thuần khí, thuần sắc. Tính tình: chuyên cần, quyết đoán, tập trung, dứt khoát, nóng nảy, bộc trực, dám nghĩ, dám làm, liền lĩnh, bản lĩnh, trong nóng ngoài lạnh, hợp với chính xác, ngắn gọn, có tính chung thủy, làm việc gì chỉ tập trung vào một việc, không đa mang, ôm đồm,… Đây là sao đơn tính nên sẽ có tính chuyên nhất cao, tập trung cao hơn, xong việc này mới qua việc khác. Khó thay đổi tính nết, trừ phi có sự nhận thức thấu đáo; là người tin vào thực tiễn, gắn lý thuyết với thực hành, có sự quyết tâm, tập trung cao độ trong mọi việc. Phù hợp với các công việc có tính chuyên môn cao, tập trung, chuyên cần, đòi hỏi sự cần cù, nhẫn nại.

Địa điểm, vị trí ở điểm duy nhất, đơn tuyến, trục, chỗ vừa hợp với nhu cầu, không thừa không thiếu. Thời gian, diễn biến hành động theo thời, nhanh, dứt khoát, chính xác, bộp chộp, vội vàng.

Sao Phá quân:

Đặc tính ngũ hành thuộc thủy, có màu đen. Tượng và ý nghĩa: đổi mới, mở rộng, đột phá, khai hoang mở mang phát triển bờ cõi, ranh giới, công nghệ. Đây là sao có tính đột phá, sáng tạo, tiên phong nhất trong các sao, không chịu sự ràng buộc, gò bó. Khi gặp Phá quân cần khuyến khích sự sáng tạo, có cơ chế sử dụng vào các công việc phát triển ý tưởng, phá băng, tiên phong, khởi đầu, đột phá thì sẽ phát huy hết khả năng, sở trường.

Hình tướng thường dáng cao lớn, hoặc dong dỏng, mắt sáng, nhìn nhiều tham vọng, ánh mắt của Phá quân thường lộ ra nhiều hơn, nên háo danh háo thắng, ngũ quan thường lộ ra như tai vểnh, trán cao, dô, mũi cao, miệng đua ra, gò má nổi, ánh mắt lộ sáng, toát ra ý chí, mong muốn,… Tính tình có tính sáng tạo, ưa đổi mới, đột phá, háo danh, háo thắng, nhanh nhẹn, tháo vát, luôn hướng về phía trước, không ngại gian khổ, liều lĩnh, dám nghĩ dám làm, có ý chí, nghị lực, không chịu bó buộc, đi trước, tiên phong, không ngừng, ưa thách thức, gian nan.

Địa điểm, vị trí ở phía ngoài, phía trên, phía trước, đỉnh, chóp, mũi. Thời gian, diễn biến ban đầu, khởi đầu, nhanh nhẹn, bất ngờ, xé rào, sáng tạo, đột phá, đột biến,…

5. Đặc điểm của các sao phụ

Tuần Triệt

Cách an sao: Tuần nghĩa là 10 can phối với 10 chi thì dư ra 2 chi nên hai chi cuối gọi là Tuần Không. Ví dụ, 10 can là Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý sẽ phối hợp với Tý Sửu Dần Mão Thìn Tị Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi thành Giáp Tý - Ất Sửu -- Bính Dần- Đinh Mão -- Mậu Thìn -- Kỷ Tị - Canh Ngọ - Tân Mùi -- Nhâm Thân -- Quý Dậu thì can hết còn lại 2 chi là Tuất Hợi, hai chi Tuất Hợi này gọi là Tuần Không. Dư ra thì phải "tuần, khoanh lại" để đánh dấu.

Triệt nghĩa là thiên can vượng quá thì cắt bớt, cắt đuôi. Phép này tính theo Ngũ Tý độn

Giáp Kỷ cùng tính từ Giáp Tý đến Quý Dậu thì Triệt tại Thân và Dậu.

Ất Canh cùng tính từ Bính Tý đến Quý Mùi thì Triệt tại Ngọ và Mùi.

Bính Tân cùng tính từ Mậu Tý đến Quý Tị thì Triệt tại Thìn và Tị.

Đinh Nhâm cùng tính từ Canh Tý đến Quý Mão thì Triệt tại Dần và Mão.

Mậu Quý cùng tính từ Nhâm Tý đến Quý Sửu thì Triệt tại Tý và Sửu.

Ý nghĩa: Tuần ngăn cách 2 cung còn lại với các cung khác và nhập 2 cung có "Tuần" lại với nhau. Vì có Tuần nên 2 cung này sẽ chỉ có tác động với nhau nhiều hơn là với các cung hợp chiếu, Tuần có tác động yếu lúc đầu rồi mạnh dần lúc sau. Triệt cắt có nghĩa là cắt, nên hễ cao, trước, dài, đầu, trên là chịu ảnh hưởng lớn. Triệt có tác động mạnh nửa đầu rồi giảm dần lúc sau.

Ứng dụng: Tuần thường có tác dụng mạnh dần từ nửa sau vận như nửa giờ sau, nửa ngày sau, nửa tháng sau, nửa năm sau, nửa đại vận sau, nửa đời sau. Tuần tác dụng siết, nhập mạnh dần 2 cung có Tuần lại. Cung có Tuần thì sự phối hợp của các bộ sao sẽ bị ngăn trở, yếu hoặc chỉ phát huy khi lực của Tuần yếu đi, gặp Tuần thì khó gặp mà dễ thành. Ứng xử với Tuần là chú trọng về chuẩn bị kỹ lưỡng, chú trọng hiệu suất cao, chờ đợi thi lâu mà hành động phải nhanh chóng, dứt khoát, có ngay kết quả.

Triệt tác dụng mạnh vào thời gian đầu, nửa sau thì giảm cường độ, vào trên, đầu, trước, mới, tác dụng thường nhanh, mạnh, cương quyết, dứt khoát, có thể bất ngờ. Triệt có tác dụng "chặt, cắt" đầu, cao, trên, trước, nhiều,... nên những gì cao, trên, trước, nhiều, đa thì sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất. Ứng xử đối với Triệt là nên làm từ từ, nhiều lần, từng bước, qua trung gian, thử trước thật sau, bỏ bớt, thanh lọc thì sẽ thuận lợi hơn.

Cách chọn ngày, giờ tránh ngày giờ không vong (Tuần và Triệt) để được việc. Gặp Tuần thì dễ không được việc hoặc khó gặp dễ thành (không gặp hoặc rất khó gặp được người, việc nhưng khi gặp được thì khả năng thành công sẽ cao), gặp Triệt thì dễ gặp khó thành, dễ hỏng hoặc gặp cản trở.

Thời gian chia có tính tương đối, dài ngắn thế nào tùy hạn định (1 giờ, 1 ngày, 1 tháng, 1 năm, 10 năm, 1 đời người...) Triệt tác dụng mạnh lúc đầu, lúc sau giảm; Tuần tác dụng yếu lúc đầu và mạnh dần về sau. Hai sao này có tác dụng tương hỗ hài hòa lẫn nhau như là hai cánh cửa của tạo hóa vậy. Không hề có sự mẫu thuẫn giữa tác dụng của hai sao này khi luận đoán, mà cần có sự phối hợp lại, xem xét sự tương tác giữa hai sao theo thời gian, lĩnh vực, địa điểm phát tác.

Bộ sao Bác sĩ -- đại diện cho trời.

Các sách Tử vi thường lấy Lộc tồn đứng đầu rồi đến các sao tiếp theo (Lực sĩ, Thanh long, Tiểu hao, Tướng quân, Tấu thư, Phi liêm, Hỷ thần, Bệnh phù, Đại hao, Phục binh, Quan phủ). Sau đó an Kình dương ở phía trước, Đà la ở phía sau, sao Bác sĩ luôn đi cùng Lộc tồn.

Khi xem xét ý nghĩa của các sao cần phải phân biệt hai sao Lộc tồn và Bác sĩ khi luận đoán. Lộc tồn là "lộc lưu trữ, bảo quản" được sử dụng khi cần thiết, có thể là lương thực, thực phẩm, tiền bạc, vật chất dự phòng. Về cách an sao Lộc tồn luôn có Kình dương (cứng, rắn, công khai, đơn, hướng lên, hướng ra) bảo vệ trước và Đà la (mềm, chắc, ngầm, kín đáo, đa, hướng xuống, hướng vào) bảo vệ sau (cung trước và cung sau cung an sao Lộc tồn). Còn Bác sĩ là sao chủ về tri thức, học hành, người có kiến thức sâu rộng, thông kim bác cổ nhờ vậy mà có thể giúp mình, giúp người, được người đời kính trọng, nể phục vì đức hạnh và kiến thức; với ý nghĩa này thì Bác sĩ là sao xứng đáng đứng đầu các sao thuộc bộ sao đại diện cho thiên can. Một sao thì thụ động, là nguồn dự trữ, được bảo vệ nghiêm ngặt nên sẽ có sự mềm yếu, mong manh nhất định, khó có thể cương quyết, dứt khoát, chỉ hợp với yên lành; một sao chủ về tri thức, bản lĩnh, hiểu biết, có tầm nhìn, luôn chủ động, tự tin trong các công việc, trong cuộc sống để có sự thăng tiến, tự chủ cuộc đời.

Ví dụ, Lộc tồn giống như hạt trong vỏ cứng, khi gặp điều kiện thuận lợi (nước, nhiệt) thì mới nảy mầm tạo thành cây cối; hoặc như là lương thực, thực phẩm dự trữ trong kho, luôn phải được bảo quản, giữ gìn nghiêm ngặt, có bảo vệ giữ gìn để không bị trộm cắp, hư hỏng, mất mát... Phú Tử vi có câu "Giáp Kình giáp Đà vi khất cái" mà giáp Kình giáp Đà chính là Lộc tồn -- sao lại là khất cái -- ăn mày được? nhiều người học không khỏi thắc mắc câu này. Nguyên nhân của câu này chính là việc Lộc tồn là sao được bao bọc, bảo vệ, thụ hưởng, trong điều kiện bất lợi, khó khăn nên mới được chúng sinh ban phát lộc, chỉ đủ dùng chứ không có dư thừa.

Vì vậy, dùng sao Bác sĩ thay cho sao Lộc tồn đứng đầu của bộ sao an theo can năm sinh cho đúng bản chất của sao.

Về thứ tự bộ sao Bác sĩ gồm: Bác sĩ (chủ về học vấn, phẩm hạnh cao), Lực sĩ (sức khỏe tốt), Thanh long (rồng xanh), Tiểu hao (sự lưu chuyển nhỏ), Tướng quân (chủ thể của các vấn đề, văn bản, người ra văn bản, cơ quan ra văn bản, người có quyền quyết định (cấp độ nhỏ), hoặc người chấp hành mệnh lệnh), Tấu thư (hồ sơ, giấy tờ, công văn...), Phi liêm (tên bay, có thể là con gián, sâu ăn lúa), Hỷ thần (thần vui vẻ, em bé sơ sinh), Bệnh phù (ốm yếu, thay đổi thất thường -- chỉ tính khí?), Đại hao (sự lưu chuyển lớn), Phục binh (ẩn núp, quân lính ẩn núp đánh úp, theo dõi), Quan phủ (nơi công đường).

Trong các sao trên thì hay gặp các cách: Thanh long đi với Lưu hà (rồng gặp sông, nước) và Hóa kị (rồng gặp mây) là cách chuyển biến tốt, gặp may mắn, thuận lợi, hoàn cảnh tốt. Song Hao (tiểu hao và đại hao) đứng trong nhóm lục bại (chủ sự lưu chuyển, rút bớt, thất bại), Tướng quân luôn xung chiếu với Binh, Thiên hình và Quốc ấn (Quốc ấn bao giờ cũng tam hợp với Bác sĩ, Lộc tồn) tạo thành bộ chủ sự về hành chính, thủ tục hành chính. Tấu thư là giấy tờ, hồ sơ, công văn nếu đi với các sao khác liên quan tới hồ sơ giấy tờ, thủ tục, viết, vẽ thì sẽ tương ứng với các công việc của các sao kia. Còn lại, Hỷ thần ít khi đi theo thành bộ, nó gặp sao tốt thì sẽ tăng độ tốt, vui vẻ của các sao đi cùng, trừ khi gặp Địa kiếp thì mới ra cách bị "trĩ" -- ăn cho sướng mồm và hậu quả phải chịu đau rát.

Bộ sao Thái tuế - đại diện cho đất

Các sao gồm: Thái tuế, Thiếu dương, Tang môn, Thiếu âm, Quan phù, Tử phù, Tuế phá, Long đức (là đức tính của rồng: mạnh mẽ, kín đáo, tiềm ẩn, có uy lực, biến hóa khôn lường, hoặc là các đức tính của linh vật, thần thánh có sự uy nghi, dũng mãnh, siêu hình), Bạch hổ (Bạch hổ là hổ trắng thể hiện quyền uy, sức mạnh, bên phải, phương tây, màu trắng, trên cơ thể là xương, chủ uy quyền, dứt khoát, mạnh mẽ, suy tư, hoặc là pháp lý, quy chế, quy định. Về tính tình thì là người cương nghị, lo xa, hay lường trước rủi ro, có lý sự, lý luận sắc bén, chặt chẽ), Phúc đức(là đức tính của người: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Người có đủ đặc tính này thì được yên ổn, người người quý mến), Điếu khách, Trực phù.

Sao Thái tuế là đứng đầu địa chi, cũng là sao cai quản một năm nên sự ảnh hưởng tương đối lớn. Vận gặp Thái tuế thì mọi việc nên thận trọng, thể hiện sự tôn trọng đối với "thần Thái tuế" thì sẽ yên ổn hơn, tốt lành hơn.

Trong bộ sao Thái tuế, các sao Tang môn và Bạch hổ là 1 cặp thuộc nhóm lục bại (Tang Hổ, Khốc Hư -- cũng an theo năm sinh, Song Hao) -- thể hiện cho quy luật vận động của đất: sinh trụ hoại diệt. Hai sao Long đức và Phúc đứchội tụ thêm Thiên đức, Nguyệt đức tạo thành bộ tứ đức có tác dụng hóa giải hung họa, là đức tính của những người thiện lương. Tuy nhiên, lưu ý rằng, "đức" phải đi với "chủ thể" thì mới phát huy tác dụng.

Bộ sao Trường sinh - đại diện cho người

Bộ sao được an vị dựa theo số cục của mỗi lá số. Có quan điểm dùng ngũ hành của năm sinh để dùng cho cá nhân mình, điều đó đúng nhưng chưa đủ, vì trong một năm đó có rất nhiều người chung ngũ hành năm sinh, nhưng ngũ hành cá nhân họ lại khác nhau -- đó là số cục (được tính theo can năm sinh, tháng sinh, giờ sinh).

Bộ Trường sinh được bắt đầu từ các cung Dần (hỏa cục), Tị (kim cục), Thân (thủy và thổ cục) và Hợi (mộc cục), gồm các sao: Trường sinh, Mộc dục, Quan đới, Lâm quan, Đế vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng. Trong đó từ Dưỡng đến Đế vượng biểu thị sự tăng tiến, tăng trưởng về lực, lượng còn từ Suy cho đến Thai biểu thị sự thoái lui, suy thoái, giảm dần về khí lực.

Trường sinh chính là thước đo về lực của cục ngũ hành cho mỗi người, mỗi cung, mỗi sự việc. Tùy vào việc gì cần khai trương, khởi sự, phát triển thì nương theo lực mạnh của cục mà thực hiện, còn việc gì mang tính chất thu về, gom lại, cất giữ, thoái lui thì sử dụng nửa sau của vòng Trường sinh. Ngũ hành cục là cụ thể cho một cá nhân đó căn cứ vào năm, tháng và giờ sinh, khi dùng các con số và màu sắc, phương vị của cục mà áp dụng trong cuộc sống.

Trong quá trình luận đoán, khi các sao chính và các sao phụ trong cung  ít nhiều, tương tác với nhau thành bộ, thành cách cục mà ở dưới sao thuộc vòng Trường sinh mà tương ứng, hỗ trợ thì các sao kia sẽ phát huy được tác dụng.

Nhóm sao Đào hoa, Hồng loan, Thiên hỷ

Nhóm này thường được biết đến với tên gọi là tam minh (ba vì sao sáng), chủ về may mắn, thuận lợi, trong sáng, tươi  đẹp, vui vẻ, thăng tiến trong công việc, hội họp, ăn nhậu, tình duyên phát, tăng tiến nhân khẩu, thêm người, hướng ngoại, phô trương,… Trời có tối có sáng, có rủi có may, có hướng nội ẩn chứa thì có hướng ngoại khoe ra. Nghĩa tam minh là hàm chứa ý nghĩa trong sáng, tươi sáng, rực rỡ, phơi bày, phô bày ra bên ngoài, công khai, minh bạch, được mến mộ, yêu mến. Do đó, những sự việc, hiện tượng gì cần tươi sáng, rực rỡ, yêu mến, may mắn thì hay có sự xuất hiện của tam minh như văn hóa, nghệ thuật, tình cảm, công danh sự nghiệp nói chung.

Đào hoa, tượng là hoa, quả, tim, máu, chủ về may mắn, thuận lợi, tình cảm, tình ái, cảm xúc, hướng ngoại, có sự thu hút, sức hút bề ngoài rực rỡ. Đào hoa thường có sức hút bên ngoài, ngay từ ban đầu rất mạnh, thể hiện ở nét đẹp dễ nhận thấy.

Hồng loan, tượng là tơ hồng, gân, mạch máu, sợi dây, chủ về may mắn, thuận lợi, hướng nội, có sự thu hút ngầm, duyên ngầm. Hồng loan thường có sức hút ngầm, gọi là duyên ngầm, thể hiện qua sự tiếp xúc lâu dài mới bộc lộ ra những đặc tính tiềm ẩn bên trong.

Thiên hỷ luôn xung chiếu với Hồng loan, chỉ sự may mắn, thuận lợi, có tin vui, điềm lành do trời ban.

Bộ ba sao này khi hội họp thì tăng sự may mắn, rạng rỡ, được nhiều người biết tới, được nhiều người yêu quý, mến mộ, khi hội tụ ở cung Mệnh; nếu hội tụ về Tật ách thì đề phòng bệnh lý tương ứng với tượng của sao, hoặc họa về tình ái, ăn uống. Tại cung Phúc đức thì được may mắn, thuận lợi ở nhiều khía cạnh, lúc đó cần xem xét lá số cụ thể tương ứng với lĩnh vực gì thì sẽ xác định rõ. Công danh, học hành, thi cử gặp được thì thăng tiến. Hôn nhân, tình duyên gặp được thì may mắn, thuận lợi, tình cảm chan chứa. Tại cung Điền trạch và Tài bạch thì thuận lợi, có cơ hội lớn để làm ăn, tài sản, tiền bạc thường được cho, tặng, có cơ hội tiếp cận. Thiên di ra ngoài được nhiều người mến mộ, giúp đỡ. Các cung khác thì cứ vậy vận dụng tên cung liên quan tới đặc tính của bộ sao mà suy luận.

Bộ tam minh khi gặp Hỏa, Linh thì tốc độ phát và thoái sẽ nhanh hơn, còn khi gặp Địa không thì có xu hướng là hình tượng, biểu tượng, tượng trưng chứ không có phiên bản thật, khi gặp Địa kiếp thì hay gặp cảnh vùi dập, đổ vỡ, tan nát, éo le, ngang trái, trừ khi bộ sao này mang tính "thuần khiết" thì Địa kiếp mới không có ảnh hưởng lớn vì không tham thì khi gặp Kiếp sẽ không bị ảnh hưởng mạnh.

Về thời gian phát tác, thường thì Đào hoa hợp với tuổi trẻ chủ về may mắn, thuận lợi, khi về già thì dễ bị tim mạch, huyết áp, hoa tang; Hồng loan hợp với trung niên chủ về sức hấp dẫn nội tâm, sâu sắc, am hiểu; còn Thiên hỷ thì bất kỳ thời gian nào.

Nhóm sao Thiên giải, Địa giải, Giải thần

Được gọi là nhóm sao tam giải ứng với thiên địa nhân. Trong các sao thể hiện cho tam tài, rất ít người để ý đến bộ ba Thiên giải, Địa giải và Giải thần, tuy nhiên bộ ba sao này lại rất có ý nghĩa trong cuộc sống.

Thiên giải đại diện cho trời có tính hóa giải, cứu giải tai ách, họa hại cho các cung, các lĩnh vực mà có sao này. Thiên giải thường là vô hình, đạo lý, các cơ chế, chính sách, sự vận hành, thời gian, thời vận, các ảnh hưởng của từ trường, thời tiết, khí hậu, nắng mưa, gió bão, sấm sét,... là những tác động của trời gây ra. Nên khi gặp Thiên giải ở cung nhân bàn nào trên lá số thì cung đó sẽ được cứu giúp, hóa giải.  Ví dụ, Thiên giải ở Phúc đức thì ông bà, cha mẹ, họ hàng, gia đình, thờ cúng, mồ mả, âm phúc nhờ những ảnh hưởng của Thiên giải mà giúp chuyển hướng tích cực hơn, cứu giúp, hóa giải ở phạm vi rộng hơn, dài hơn. Ở đây, cần chú ý thêm sự có mặt của sao Thiên không là sao có ý nghĩa nhân quả, hoặc trừng phạt, xử lý những gì đi ngược với quy luật của trời. Thiên không và Thiên giải cùng nhau sẽ giúp cho người thấu hiểu được đạo lý của trời mà có sự linh mẫn đặc biệt, từ đó luôn có cách sống, cách cư xử, tu luyện hợp với đạo trời.

Địa giải đại diện cho đất có tính hóa giải, cứu giải cho các tai ách, họa hại liên quan tới vật chất, đồ vật, vật hữu hình, làm chậm lại quá trình sinh trụ hoại diệt của vật chất. Các cung mà Địa giải phát huy tối đa vai trò là Điền trạch, Phúc đức, Mệnh, Tật, Di, Quan khi các lĩnh vực này là các đối tượng liên quan trực tiếp tới vật chất, điền sản. Khi ở Điền trạch và Phúc đức thì các khó khăn, vướng mắc, họa hại liên quan đến phong thủy, đất đai, mồ mả, nơi thờ cúng sẽ có biện pháp hóa giải và khả năng hóa giải thành công cao. Khi ở Mệnh, Tật, Di, Quan thì các khó khăn, họa hại liên quan tới con người, công việc, đi lại sẽ được giảm thiểu, đôi khi thoát nạn thần kỳ. Các cung còn lại thì Địa giải sẽ giúp hóa giải cho "tên, lĩnh vực" cung đó tức là không hóa giải trực tiếp cho chủ nhân của lá số; hoặc chủ sự của các cung đó sẽ là bên hóa giải, cứu giải cho bản mệnh. Ngoài ra, nhờ ảnh hưởng của Địa giải, mà mỗi người biết hoặc sẽ có các giải pháp phù hợp dựa trên vật chất, nơi sống, điền sản để sống hài hòa, thích nghi, giảm thiểu tối đa ảnh hưởng do họa về điền địa. Cần chú ý thêm vai trò của Địa kiếp sao nhân quả liên quan tới vật chất, điền sản. Nếu Địa kiếp là sao đòi nợ thì Địa giải là sao xóa nợ, giảm nợ, có vay có trả. Hai sao này mà cùng cung hoặc Địa kiếp ở đâu thì xuất phát "nợ" ở đó, đến khi gặp Địa giải thì mới mong giải nợ, xóa nợ được. Đó cũng là sự nhắc nhở cho mỗi người cần biết để cư xử cho phù hợp, giảm thiểu rủi ro.

Giải thần đại diện cho người, có tính hóa giải nhờ chính bản thân hoặc người khác giúp đỡ. Họa phúc tự hóa giải được cho mình là khi Giải thần ở các cung Phúc, Mệnh, Quan, Di, Tài, Tật là tự thân có những hiểu biết, hành động đúng từ đó giảm thiểu rủi ro, họa hại. Khi ở các cung khác của lá số thì hoặc nhờ những người khác giúp đỡ, hóa giải; hoặc bản thân sẽ luôn luôn làm thiện, giúp đỡ người khác ở các lĩnh vực liên quan (Phụ mẫu, Bào đệ, Phu, Thê, Tử tức, Nô bộc). Sao Giải thần có thể do mình làm phúc, thiện tự tích lũy công đức mà tăng sức ảnh hưởng, tăng khả năng hóa giải lên. Ví dụ, như người thấy sức khỏe yếu mà biết tập luyện thể dục thể thao, điều chỉnh chế độ ăn uống, sinh hoạt mà tăng cường được sức khỏe.

Nhóm sao Thiên riêu, Đà la, Hoá kị

Thường được gọi là tam ám, có nghĩa bí ẩn, che dấu, đen, tối, không nhìn rõ, hoặc bí mật, không lộ diện, hoặc mang ý nghĩa tiêu cực.

Thiên riêu chủ về lông, tóc, tơ, rua, thuộc số nhiều, có tính che phủ, hoặc là các con vật có nhiều chân (rết, cuốn chiếu, mực,...), cây có nhiều tơ, tua, tơ hồng, có nhiều rễ bám. Đà la chủ về ngầm, kín đáo, che giấu, ẩn nấp, màu đen, tối, đêm, phía sau,phía dưới. Hóa kị chủ về mực, màu đen, tối, thị phi, mùi.

Hình tượng chung của tam ám (xem hóa Kị của sao nào: Dương, Âm, Liêm, Cự, Cơ, Văn khúc, Đồng, Xương, Vũ khúc, Tham để biết bản chất của Kị do sao nào hóa ra). Về hình tướng có đặc điểm râu, tóc, lông tốt, đen, hoặc da đen, hoặc bớt đen, nốt ruồi, hoặc môi thâm, mắt trắng, hoặc tướng tá không được sáng sủa. Về tâm tướng mang ý nghĩa tính tình kín đáo, âm thầm, thâm hiểm, hướng nội,… Về diễn biến thường có biểu hiện kín đáo, âm thầm, cản trở ngầm, phát sinh không biết,… Về màu sắc là tối, đen, mờ, ảo, không nhìn rõ. Về vật chất ứng với thuốc độc, hóa chất, mực, ô nhiễm, nội tiết tố, mùi hôi, mùi đặc biệt. Về ngôn ngữ thường liên quan đến thị phi, bất đồng, nói không hiểu nhau, hoặc ngôn ngữ, văn hóa khác biệt, nói ẩn ý, ngoại ngữ. Về tình cảm là mờ mịt, buồn, không rõ tình cảm thực hư thế nào. Về công việc, nếu tam ám ở Quan lộc hoặc Mệnh thì thường làm các công việc bí mật, không rõ thân phận như điệp viên, việc liên quan tới hóa chất, photocopy, xử lý môi trường, thấy tiếng mà không thấy hình, làm những nơi tối tăm (hầm mỏ, địa đạo, hầm). Nói chung nhóm sao này mang tính hướng nội, hướng xuống, chậm, không rõ, màu tối, buồn, xui xẻo,… tùy vào từng hoàn cảnh, không có nghĩa là xấu hết. Hiểu những đặc tính này, liên hệ với thực tiễn cuộc sống để bổ sung thêm.

Nhóm sao Phục binh, Thiên hình, Tướng quân, Quốc ấn

Đây là nhóm sao có tính chất hành chính, quyền lực, liên quan tới các việc ban hành mệnh lệnh, chính sách, quyết định...

Tướng quân chủ thể của các vấn đề, văn bản, người ra văn bản, cơ quan ra văn bản, người có quyền quyết định (cấp độ nhỏ), hoặc người chấp hành mệnh lệnh.

Phục binh là số đông, ẩn núp, mai phục, kín đáo, ngấm ngầm, hoặc là đối tượng chịu tác động của văn bản, đối tượng chịu sự sai khiến, điều khiển, điều chỉnh.

Quốc ấn chủ về quyền lực, có tính chính thức, chính thống, đại diện hoặc thay mặt cho cơ quan, người có quyền lực, biểu hiện của văn bản, mệnh lệnh được ban hành, có hiệu lực của văn bản, quyết định.

Thiên hình chủ về gươm, đao, kim khí, biểu hiện của sự chấp pháp, thực thi pháp luật, thực thi quyền lực theo mệnh lệnh (Quốc ấn), hoặc tính thực thi của pháp luật, văn bản, công văn, giấy tờ.

Nhóm này chủ về các thủ tục hành chính, các quyết định, văn bản, hồ sơ, giấy tờ có liên quan tới con dấu, cơ quan chức năng, thăng tiến về công danh hoặc có thể bị xử lý vì các hành vi vi phạm pháp luật.

Nhóm sao Long trì, Phượng các, Bạch hổ, Hoa cái

Đây là bốn linh vật gồm rồng, phượng, hổ và rùa chủ về tâm linh, phần âm, phương hướng (đông, tây, nam, bắc hoặc trên, dưới, trước, sau), hình tượng, hình ảnh, tạo hình, màu sắc, văn hóa, nghệ thuật, trang trí, sự ủng hộ, cổ vũ, tụ tập đông người, quyền uy (âm phù, dương trợ).

Long trì là ao rồng, biểu tượng cho rồng, các con vật bò sát, phương đông, màu xanh, bên trái, tay trái, phía trái cơ thể, trên mặt là mũi, người có Long trì tướng mạo thanh tú, hành động uyển chuyển, tính tình vui vẻ hòa nhã, khéo léo mềm mỏng.

Phượng các là gác phượng, lầu phượng, biểu tượng cho chim phượng, các loài chim, lông vũ, phương nam, màu đỏ, nhà cao có lầu, tầng đẹp, bên trên, phía trước, ngực, bụng, trên đầu là tai, hoặc tim, thần kinh tim, chủ vui vẻ, thuận hòa, hòa giải, tinh tế, văn minh, sáng láng,  màu đỏ.

Bạch hổ là hổ trắng, biểu tượng cho các loài thú dữ, phương tây, màu trắng, thể hiện quyền uy, sức mạnh, bên phải, trên cơ thể là xương, chủ uy quyền, dứt khoát, mạnh mẽ, suy tư, hoặc là pháp lý, quy chế, quy định. Người có Bạch hổ tóc hay bạc sớm hoặc bạc nhiều, gò má nổi cao, tính tình mạnh mẽ, dứt khoát, uy nghiêm, giỏi lý lẽ, có tư duy đánh giá.

Hoa cái là rùa, lọng che, ô dù, bóng mát, mái nhà, phương bắc, màu đen, bên dưới, phía sau, trên cơ thể là miệng, ngọc chẩm, sau lưng, mông, xương mu, bộ phận của phụ nữ. Người có Hoa cái miệng có lăng giác, sắc nét, ăn nói chậm rãi, sắc sảo, diễn thuyết tốt, đôi khi kiêu ngạo, an nhàn, thong dong, ưa hưởng thụ.

Cung hợp nhất cho bộ tứ linh phát huy tác dụng ở cung Phúc đức, Quan lộc, Điền trạch và Mệnh. Phúc đức được tứ linh chầu thì âm phần vượng phát, Phúc đứcđời trước để lại cho đời sau, mồ mả hay đặt nơi đắc địa, con cháu phát đạt, tùy vào sao phát về danh thì lên danh, phát về phú thì lên phú, phát về nhân khẩu thì ra con cháu đông đủ. Điền được tứ linh thì ở nơi đắc địa, nhà cửa hay gần đình chùa miếu mạo, chốn linh thiêng, nơi làm việc cũng vậy, và, hoặc ở, làm việc những nơi quyền uy, cơ quan công quyền, công sở. Đi đâu, ở đâu cũng có than linh hỗ trợ, nếu đi với các sao họa, sát (Đào Riêu Kiếp Kị Hỏa Linh) thì mới phải phòng ma tà quỷ quái, hoặc nơi âm khí quá vượng mà ảnh hưởng tới bản thân. Cần phải xem lại cung Mệnh xem có làm chủ được cung Điền hay không. Người có tứ linh chầu mệnh thường hay được âm phù dương trợ, có uy quyền, ăn nói được người nể trọng vì bộ này hay gặp Thái tuế trong tam hợp. Chủ về nghệ thuật nên thường phát về các ngành nghề nghệ thuật, văn học, thơ ca, họa sĩ, thiết kế, giải trí, ca múa nhạc. Chủ về quyền uy, viết bài thì phát về công danh, ký giả, những người thuyết khách có ảnh hưởng xã hội, hoặc nhà nghiên cứu, chính trị gia, quan chức.

Có tứ linh hội hợp thì âm phù dương trợ, công danh thăng tiến, vui vẻ. Tuy nhiên, khi gặp tứ linh thì phải cẩn thận phạm thần linh, tâm linh mà dễ bị quở phạt, gặp điều oan trái, quỷ quái hành mà thất điên bát đảo, điên loạn.

Nhóm sao Thiên đức, Nguyệt đức, Long đức, Phúc đức

Thường được gọi là nhóm tứ đức, chủ về những đặc tính tốt của trời, đất, trăng, rồng và người như khách quan, mạnh mẽ, mềm dẻo, hành xử đúng đạo lý, phước thiện, luôn sống, vận hành theo đúng đạo trời đất, giúp người, cứu khốn, phò nguy,… Khi các sao này hội đủ tam hợp chiếu, xung chiếu thì tác động của nó sẽ mạnh nhất, hoặc đã có nhị, tam đức và vận gặp thêm đức nữa thì tác dụng cũng mạnh. Tác dụng là bản tính sẽ phát thiện lương, hành động đúng mực, tích thêm các đức tính tốt,  nhờ vậy mà có phúc. Ở các cung khác (tức ngoài Mệnh, Quan, Tài, Di) thì tùy cung mà có các sao này mà có ứng biến khác nhau. Ví dụ, tứ đức hội về cung Phúc đứclà dòng họ phát tích Phúc Đức, nhiều người thiện lương, nếu có thêm các sao chính sáng thì sẽ phát thêm về phú hoặc quý, ứng vào cung Nô thì bạn bè, đồng nghiệp, anh em...là những người tốt, thiện lương. Vào Điền trạch thì gặp đất tốt. Các cung khác thì tùy lĩnh vực mà đoán theo tính chất của tứ đức.

Khi gặp các sao tứ đức thì nương theo các đặc tính của sao mà ứng xử, hành động thì sẽ được thuận lợi, việc dữ hóa lành, giúp người được việc, gặp việc khó thì có người giúp đỡ.

Nhóm sao Kình dương, Đà la, Linh tinh, Hoả tinh, Địa không, Địa kiếp

Chủ về hành động, mạnh mẽ, sức mạnh, có tính sát, dám nghĩ, dám làm, có tính nguy hiểm, gian lao, khó nhọc, vất vả ở cấp độ lớn.

Sao Kình dương, Đà la -- cặp hộ vệ của kho trời "Lộc tồn", được an theo can

Kình dương có tượng là cột chống trời, hoặc ngọn thương, có tính đơn, công khai, minh bạch, rõ ràng, thẳng thắn, hướng lên, hướng ngoại, nhanh chóng, dứt khoát. '

Đà la có tượng là lưới, hoặc như cái rễ chùm bám xuống đất, là ám tiễn - mũi phi tiêu bất ngờ, ngấm ngầm, có tính đa, kín đáo, ngấm ngầm, chậm, hướng xuống, dai dẳng. Vì có đặc tính "hộ vệ" nên trong cuộc sống, lĩnh vực nghề nghiệp thì hai sao này thường ứng với: vũ tràng, vũ thuật, cơ khí nặng, công trình, bảo vệ, ngăn ngừa, phòng chống, công khai hay bí mật. Ví dụ, luận về công danh sự nghiệp, nếu hỏi là: sắp tới có chuyển việc hay không? Bao giờ chuyển, chuyển như thế nào, ai giúp, mà gặp sao Kình dương thì khả năng chuyển nhanh, chuyển dễ, người đã quen biết giúp và xem thêm sao quý tinh khác, hoặc vì bất đồng mà chuyển, gặp sao Đà la thì việc chuyển chậm, khó, lằng nhằng trong chuyển đổi, chưa rõ người giúp, hoặc không định rõ được tương lai công việc thế nào.

Sao Linh tinh, Hỏa tinh - năng lượng tự nhiên được an theo năm và theo giờ

Linh tinh có tượng là sét, thần kinh, linh hồn, lửa tam muội, điện, sóng vô tuyến, siêu năng lượng, vô hình, có sức mạnh, rất nhanh, dài, nhỏ, phổ hẹp, hướng từ trên xuống.

Hỏa tinh có tượng là lửa, nhiệt, nóng, đèn, nến, hướng lên, có hình tượng, nhiệt huyết, mong muốn, năng lượng.

Đây là cặp sao chủ về năng lượng, nên các ngành nghề có liên quan đến năng lượng thì thường có 1 hoặc cả 2. Ví dụ, nghề điện, nghề luyện kim, kim hoàn, làm sắt nguội, hàn xì, hoặc xăng dầu, điện lực, viễn thông, công nghệ thông tin, tâm linh,…

Sao Địa không, Địa kiếp -- cặp nhân quả của trời đất, được an theo giờ sinh

Tượng của cặp này là sự thanh lọc của trời và sự thử thách của đất đối với con người, do đó có tính nhân quả rất cao; Không có tác động vô hình, hình tượng, tưởng tượng, trí tuệ, lý thuyết còn Kiếp thì hữu hình, trải nghiệm, thực tiễn, thực hành. Đạo trời vốn tự nhiên, coi vạn vật  bình đẳng như nhau, nên không thể lấy quyền kẻ mạnh mà hiếp yếu, làm trái tự nhiên; đạo đất vốn bao la, dung dưỡng vạn vật, không vì thế mà tham lam, không chịu lao động, vơ vét, chiếm quyền sử dụng của người khác. Trái đạo trời đất thì khi vận đến cặp sao này thì sẽ phải hoàn trả lại những gì đã làm sai trái hoặc phải khắc phục hậu quả. Do đó, đối với Không thường xảy ra trước, nặng thì mất mạng, mất cơ đồ, sự nghiệp, mất quan hệ, mất trí nhớ, tinh thần, đối với Kiếp xảy ra sau, vùi chôn, dò xét, bới móc, hư hỏng, làm tan rã, phân hủy, mất mát về vật chất, hữu hình.

Thiên không ứng vào thời gian đầu, nhanh, thúc chín ép, sớm kết thúc, có tính biểu tượng cao, biến các sao khác thành biểu tượng, hình ảnh tượng trưng thay vì người thật, việc thật, vật thật; là sao chủ về tư tưởng, tinh thần nên có tư duy tưởng tượng rất phong phú, có khả năng tâm cơ linh mẫn, nhạy cảm, hay lo xa, lường trước được sự việc, có giác quan thứ sáu. Các sự việc mang tính vô hình như tư tưởng, đạo lý, không gian, khoảng không thường chịu ảnh hưởng lớn của Thiên không. Khi sao này ở các cung nào thì sẽ kết hợp với tên cung, nội dung cung để ra sự việc tương ứng. Ví dụ, Thiên không ở Điền trạch nhiều khi là giấy tờ nhà đất đứng tên mà không ở, hoặc đứng giùm người khác, hoặc nhà có không gian thoáng mát, có giếng trời, có ánh sáng rọi chiếu vào nhà... hoặc nhà có nhiều cửa, tường bằng kính.

Địa kiếp ứng vào thời gian sau, chậm, tàn phá, báo thù, báo nghiệp, biết sợ để không tham lam, vơ vét, ăn uống, làm việc, sinh hoạt phải biết giữ gìn sức khỏe. Địa kiếp là sao về vật chất, hữu hình nên trong cơ thể hay ứng với các bệnh về ung u bướu, viêm nhiễm, các chứng bệnh do không kiêng cữ tốt, do vậy nên giữ gìn cho thanh sạch, kiêng cữ tốt, bớt tham lam về vật chất thì sẽ ít chịu ảnh hưởng xấu. Kiếp có thể coi là món nợ cuộc đời, đóng ở cung nào thì cứ theo tên gọi cung đó mà luận sự việc. Ví dụ, ở cung Điền trạch thì tạo dựng vất vả, tay trắng gây dựng nên cơ đồ nhưng cũng có lúc hao hụt, mất mát.

Nhóm sao Đại hao, Tiểu hao, Thiên khốc, Thiên hư, Tang môn, Bạch hổ

Chủ về lưu chuyển, chuyển hoá, rút lui, tái chế, tái sử dụng, cũ, xấu, hư hỏng, mục nát, thất bại, hướng nội, cổ vật, bỏ phế, bỏ hoang, đồ cũ, buồn thương, tang tóc, đổ vỡ, mất mát, hủy hoại…

Đại hao, Tiểu hao chủ về sự lưu chuyển, thay đổi từ ít tới nhiều (tiểu hao tới đại hao) từ nhiều thành ít (đại hao tới tiểu hao). Do ngày xưa quan niệm tụ thì thành, tán thì bại nên việc song Hao là tượng lưu chuyển liên tục được xếp vào nhóm lục bại. Nhưng quan điểm ngày nay tụ thì chưa chắc đã giầu, tán chưa chắc đã nghèo, đồng tiền, trí tuệ, công sức luôn phải vận động thì mới là thành công. Ví dụ, chứng khoán là một loại tiền, hoặc đầu tư tài chính thì thường phải có song Hao thì mới  hợp, còn như tụ lại một chỗ thì chỉ là thủ kho, thủ quỹ, nơi chứa đồ bỏ đi. Trong một xã hội luôn luôn vận động, song Hao có ý nghĩa rất quan trọng, đó là thay cũ, đổi mới. Khi sự thay đổi, luân chuyển này bị ngăn lại (gặp Tuần), gián đoán (gặp Triệt), phá vỡ (gặp Địa Kiếp) hoặc cạn nguồn (gặp Tuyệt) thì lúc này nó dễ trở thành cách bại, không hợp thời.  Nếu gặp đủ bộ lục bại, thì ứng vào lĩnh vực gì thì lĩnh vực đó bị ...lụn bại, thất bại, hao tán, hoặc..chỉ lợi thu gọn, bỏ đi, cống hiến cho xã hội, cộng đồng, vì người khác, không vì bản thân thì mới lợi, nhờ đó tuy bại mà lại thành.

Thiên khốc, Thiên hư chủ là tiếng kêu, khóc, âm thanh (Khốc) và cũ nát, hỏng (Hư). Do Khốc là tiếng kêu, âm thanh nên nếu gặp sao buồn rầu, nội tâm thì nó chủ buồn, đa sầu đa cảm, đi với sao hỉ thì nó là linh đình, nhộn nhịp; riêng Hư là sự phá bỏ, phế bỏ, tự hoại, nên cái mới, cái tốt gặp nó thì không hay, còn cái già, cái chín lại thành ra sự chín, chuyển giai đoạn. Như vậy, công dụng của cặp sao này là phụ tá, giai đoạn chuyển giữa tốt với xấu, xấu với tốt. Trong các sao, Thiên cơ mà gặp Khốc Hư là tượng phổi bị hỏng, hô hấp kém, hen, suyễn, hoặc chứng suy giảm chức năng cơ, nội tiết. Về mồ mả (Phúc Đức) thì thường bị đào bới xới lộn, đặt lên đất cũ đã cải mộ, nơi thờ tự hoang phế, dòng họ lụn bại, ly tán; vào Điền trạch thì không nên ở nhà mới, hoặc nhà cửa phải sửa chữa lại, hoặc nhà có hư hỏng, mối mọt, đồ đạc cũng không nên mua sắm nhiều (nếu cách Điền vô chính diệu thì càng ứng)

Tang môn, Bạch hổ chủ về tâm tư hướng nội, là người có trí tuệ, thường đăm chiêu, suy  nghĩ sâu sắc, lễ nghi, phép tắc, pháp luật. Tang môn thủ mệnh thì hay bị tổn thương tinh thần, hoặc sớm chịu cảnh thiếu tình cảm, dễ bị nhiễm lạnh; Bạch hổ thì gian nan vất vả, khí phách hơn người. Ứng vào Mệnh, Tật thì thường tóc bạc sớm, có trí tuệ. Do sự hướng nội cao, lại thêm gian nan, vất vả, thất bại, tổn thương nên được xếp vào nhóm lục bại.  Các sao này gặp các sao như Xương, Khúc, Long, Phượng, Tấu thư, Khoa, Đường phù, Quốc ấn thì trí tuệ hơn người, có thành danh, thành công.

Có thể tham khảo tính chất của các sao này ở sách Tử vi đẩu số tân biên. Tuy nói lục bại, nhưng không nên coi đó là xấu, mà tùy theo công dụng của nó vào từng thời điểm, địa điểm, con người, cách thức như thế nào mà định đoán việc tốt xấu, nếu vội vàng kết luận thì dễ phạm sai lầm.

Nhóm sao Thiên khôi, Thiên việt, Ân quang, Thiên quý, Thiên quan quý nhân, Thiên phúc quý nhân

Chủ về ơn trên gia hộ, giúp đỡ, việc thiện lương, cao quý, tốt lành, phúc thiện, cứu khốn phò nguy, mang lại sự tốt lành cho mọi người, mọi việc.

Thiên khôi, Thiên việt chủ đứng đầu về văn (Khôi) và võ, kỹ thuật (Việt), chủ về bằng cấp, danh hiệu, vai trò, vị thế, uy tín lớn trong gia đình, xã hội, ngành nghề, lĩnh vực. Có thể là quan chức hoặc chuyên gia, bậc thầy. Sự giúp đỡ của cặp sao này sẽ mang đậm tính tri thức, khai trí. Cầu việc gì mà liên quan tới công danh, học hành, thi cử, tri thức thì nên tính ngày có hai sao này mà vận dụng. Trong phép chọn ngày hay chọn ngày Thiên ất quý nhân chính là chọn ngày giờ có hai sao Khôi Việt này.

Ân quang, Thiên quý là sự giúp đỡ, gặp gỡ, tiếp xúc, làm việc với người quyền quý, thiện lương do âm đức đã tích lũy từ trước, khi gặp người gặp việc có các sao này thì phúc khí của hai sao phát huy tác dụng. Hai sao này đi kèm theo với các sao khác sẽ tạo thành bộ quý nhân rất mạnh. Ví dụ: Ân Khôi, Quý Việt, Thiên đồng Thiên quý, Thanh long Thiên việt thì hay gặp người có chức quyền, địa vị lớn trong xã hội, thậm chí là nguyên thủ quốc gia. Hoặc Tả Ân quang, Hữu Thiên quý là cách gặp gỡ, ở gần những người có chức quyền. Mức độ ảnh hưởng của cặp sao này rất rộng, có thể ở các cấp độ khác nhau, các việc khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, không có sự phân biệt.

Thiên quan quý nhân và Thiên phúc quý nhân: Thiên quan chủ về người có chức vụ, Thiên phúc chủ về người có đạo đức, phúc khí lớn. Ở bản thân thì là người có tư chất, tướng mạo, đạo đức tốt, ở các cung khác thì giúp cho các cung đó tốt hơn, hoặc bản thân mình được tốt trong các lĩnh vực đó, cung đó. Các sao này thường mang tính chất chọn lọc, ít khi xuất hiện, ít khi phát tác, nên phải khi hội đủ các điều kiện cần thiết thì mới phát huy tác dụng. Khi gặp những việc mà cần có sự hỗ trợ, giúp đỡ của người có chức quyền, đạo hạnh lớn thì nên tìm ngày có hai sao này mà hành động.

Nhóm sao Lộc tồn, Hoá lộc, Lưu niên văn tinh, Thiên trù, Song hao, Đào hoa:

Lộc tồn là lộc có sẵn, ở mức nhất định hoặc có giới hạn mà trời dành cho, lưu ở cung nào thì có tính chất như là sổ tiết kiệm, phần dự phòng, như mầm của hạt, như hạt giống của cây, cây giống của mùa vụ ở cung đó. Lộc tồn còn là sao cứu mạng nên sẽ ứng với câu "Của đi thay người".

Hóa lộc là phải xem năm thuộc can gì, sao gì hóa ra Lộc thì cứ căn cứ theo đặc tính của sao đó mà hành động cho phù hợp thì sẽ phát lộc hoặc tăng giá trị của công việc, hành động, vật chất. Hóa Lộc có độ số gia tăng nên có thể phát huy giá trị theo nhiều cấp độ khác nhau.

Lưu niên văn tinh là sao lộc nhỏ có thời gian hưởng lâu dài, thường do trí tuệ phát mà có lộc.

Thiên trù tượng là bếp trời, nên lộc này ám chỉ lộc thực, lộc ăn uống, dinh dưỡng, ở vào cung nào thì tương ứng theo lĩnh vực đó.

Song Hao là tượng lưu chuyển, nên lộc này là lộc chuyển hóa, thời đại ngày nay xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập thì song hao là yếu tố quan trọng cần thiết để lưu thông hàng hóa, tài chính, tiền tệ và từ đó sinh ra lợi nhuận.

Đào hoa là sao chủ về may mắn, nên lộc cũng có thể là của cải, vật chất hoặc tiền bạc, hoặc là cơ hội để thành công, là quà tặng, phần thưởng, hoa hồng.

Chương 6 — TỨ HÓA VÀ QUY LUẬT CỦA TỰ NHIÊN

Khái niệm về tứ Hóa

Trong các tài liệu về Tử vi truyền thống, phần khái niệm về Tứ Hóa hầu như không có hoặc đề cập rất ít, không có sự đầy đủ hoặc đúng bản chất của Tứ Hóa, trong khi đó nội dung về Tứ Hóa được viết rất nhiều trong các tài liệu của Trung Quốc.

Việc hiểu biết đầy đủ về Tứ Hóa rất quan trọng trong việc tìm hiểu và nghiên cứu Tử vi, nếu không có sự hiểu biết đúng đắn sẽ rất khó lĩnh hội được những đạo lý mà Tử vi mang lại cho chúng ta. Vì vậy, tài liệu này sẽ cố gắng đưa ra những nội dung mới về khái niệm, đặc tính của Tứ Hóa một cách đầy đủ, ngắn gọn và trình bày một cách dễ hiểu nhất.

Hóa Lộc: 1) Hành mộc, phúc tinh, là sao phụ trong bộ Lộc, Quyền, Khoa, Kị. Sao chủ về sự phú quý về tiền bạc và những vui mừng. 2) Đặc tính sinh sôi, nảy nở, phát về tiền, của, lương thực, đồ ăn, thức uống của một sao. 3) Những đặc tính của thiên can mà khuyết thiếu gì thì khi gặp sao có đặc tính bù lại thì sao đó sẽ hóa lộc. Lấy dư bù thiếu thì hóa lộc như thời bao cấp cấm buôn bán thương mại như thời của can Bính cấm đoán thì kinh doanh, thương mại, buôn bán, tiếp xúc đông người (Thiên đồng), đáp ứng nhu cầu thiếu thốn hàng hoá, nhu yếu phẩm của nhiều người thì kiếm được tiền bạc rất nhanh chóng. Do đáp ứng đúng thứ mà xã hội thiếu, có ít nên hóa lộc có giá trị, nâng cao giá trị của các hành động, sự vật, hiện tượng, con người mà từ đó có cơ hội phát tài lộc, làm ra tiền bạc, tài sản.

Hóa Quyền: 1) Có quyền binh, chính thức, có thể tự mình tạo ra được thế lực cũng như hậu thuẫn. 2) "Sức mạnh" của một sao có khả năng gây ảnh hưởng tới "sao khác, người khác", có khả năng ảnh hưởng, dẫn dắt, lãnh đạo, vượt trội, lất át, có thế lực hơn. 3) Khi đặc tính của thiên can gặp các đặc tính tương tự nhưng có mức độ, cấp bậc, quy mô nhỏ hơn của sao mà nó bổ trợ cho can thì sao sẽ hóa Quyền, tức là tăng khả năng cạnh tranh, tăng sức mạnh cho can. Quyền tức là có thế, có lực và phát huy đúng vai trò, vị thế của mình và hết khả năng vốn có, vì vậy có thêm động lực, lợi thế cạnh tranh, có sức mạnh, quyền lực. Hóa Quyền có nghĩa có người, vật đồng hành, hỗ trợ trong các công việc, sự việc, trợ lực, là công cụ cần thiết, thiết yếu để giúp cho thực hiện hiệu quả nhất công việc.

Hóa Khoa: 1) Có tính âm, thuộc hành thủy gọi tắt là Khoa, là khoa giáp, thích đi làm từ thiện, hiển vinh, rất nhân hậu, thích cứu giải về bệnh tật và tai họa. 2) Sao chủ về học vấn, tư duy, trí tuệ, tri thức, sự tính toán, cân nhắc, chủ về có học và có hạnh nên thường là sao đứng đầu về hoá giải hung sát. Vì là sao có phẩm hạnh, đức hạnh tốt, biết cách tu sửa bản thân để được tốt hơn nên không nệ về màu mè, thanh sắc, hình thức bên ngoài mà chú trọng vào tu tâm nên có thể diệt trừ, ngăn ngừa được hung hoạ khi chúng chưa tới. Sách Tử vi thường gọi là đệ nhất giải thần chính là từ sự trí tuệ và phẩm hạnh có khả năng tự hóa giải cho bản thân chứ không phải trông chờ sự hỗ trợ bên ngoài. 3) Các đặc tính của thiên can gặp được các đặc tính của sao giúp chuyển hóa trạng thái của can ở những giai đoạn bước ngoặt, nhảy vọt, then chốt. Ví dụ, như các chất xúc tác, kích hoạt, bộ phận hỗ trợ chuyển động. Nhờ các đặc tính trên mà Hóa Khoa có tác dụng chuyển đổi trạng thái, hóa giải khó khăn, vướng mắc, tai ách, họa hại. Hóa Khoa giống như là "chìa khóa" để mở, hóa giải các vấn đề khó khăn, hoặc nâng tầm thực trạng lên cấp độ mới, cao hơn.

Hóa Kị: 1) Hành thủy, là một loại ác tinh với đặc tính thâm trầm, xảo quyệt, rất hay ganh ghét, gặp nhiều trở ngại, đố kị và gặp nhiều thị phi trong cuộc sống, thường gọi tắt là Kị. 2) Đặc tính che, ẩn, giấu, tối, kìm hãm, rút bớt đối với một sao. 3) Khi đặc tính của thiên can gặp những đặc tính giống hệt của sao thì sao đó Hóa Kị. Hóa Kị là "Thừa phải rút bớt" tức cái gì nhiều quá thì thì cần phải rút bớt đi hoặc cô đặc lại, tinh chất lại, thanh lọc, ẩn đi thì mới bền vững, là một trong những quy luật vận động của chọn lọc tự nhiên. Hóa Kị có xu hướng: giảm bớt, rút bớt, thanh lọc, loại bỏ những đặc tính xấu hoặc số đông, dư thừa (của sao so với can) mà từ đó giảm thị phi, giảm bất đồng, tranh cãi, giảm độc hại; tăng chất lượng bằng cách tập trung có trọng điểm, cô đọng các đặc tính tốt để tạo sự cân bằng, nâng cao giá trị.

Ghi chú: Khái niệm về tứ Hóa ở trên gồm 3 mục: 1), 2) và 3), trong đó mục 1) tham khảo từ các tài liệu, mục 2) có sự biên tập, chỉnh lý từ các tài liệu, còn mục 3) trình bày góc nhìn mới.

Tứ Hóa không gọi là sao, mà bản chất của nó chính là ký hiệu đánh giá mức độ giá trị, mức độ biểu hiện của một số sao khi gặp Thiên Can.

Hóa là một đặc tính nổi trội cần bổ sung, cần tiết giảm, cần bổ sung, hoặc bổ trợ của sao đối với can. Tứ hoá là các đặc tính nổi trội của 11 sao chính và 4 sao phụ là Văn xương, Văn khúc, Tả phù và Hữu bật đối với can nhất định. Tứ hoá chia thành 2 nhóm là hữu hình gồm Lộc và Kị, vô hình gồm Quyền và Khoa, hoặc chia thành nhóm tăng tiến (Lộc, Quyền) và nhóm thoái lui, thu vào trong (Khoa, Kị). Tứ hóa là tên gọi đồng âm mà khác nghĩa tức là tuy cùng là hoá Lộc nhưng bản chất khác nhau với 10 can, do đó cần phân biệt khi luận đoán. Ví dụ, cùng là hoá Lộc nhưng can Giáp bản chất của hoá Lộc là do sao Liêm trinh hoá ra, nhưng can Ất lại do Thiên cơ hoá Lộc. Hiểu được tứ hoá là hiểu cách ứng xử để cho phù hợp, không phải lúc nào cũng hoá Lộc là tốt, hoá Kị là xấu. Có quan điểm cho rằng: Lộc là mong muốn, ý chí; Quyền là động lực, hành động; Khoa là giải pháp; Kị là kết quả. Có thể coi tứ hóa như bốn mùa trong một năm: Lộc là mùa xuân, Quyền là mùa hè, Khoa là mùa thu và Kị là mùa đông lần lượt lưu chuyển thành một chu trình khép kín.

Cách an tứ Hoá

CAN / HÓALỘCQUYỀNKHOAKỊ
GIÁPLiêm trinhPhá quânVũ khúcThái dương
ẤTThiên cơThiên lươngTử viThái âm
BÍNHThiên đồngThiên cơVăn xươngLiêm trinh
ĐINHThái âmThiên đồngThiên cơCự môn
MẬUTham langThái âmHữu bậtThiên cơ
KỶVũ khúcTham langThiên lươngVăn khúc
CANHThái dươngVũ khúcThái âmThiên đồng
TÂNCự mônThái dươngVăn khúcVăn xương
NHÂMThiên lươngTử vi Tả phùVũ khúc
QUÝPhá quânCự mônThái dươngTham lang

Một số khác biệt về Tứ hoá trong các tài liệu Tử vi.

Can Canh có hai quan điểm về hoá Kị, một quan điểm cho là Thiên đồng hoá Kị, một quan điểm cho là Thái âm hoá Kị. Tuy nhiên, xét theo khái niệm về Tứ hóa ở trên thì Thiên đồng hóa Kị của tuổi Canh mới phù hợp.

Can Tân có tài liệu cho rằng Thiên lương hóa Quyền, nhưng Thiên lương đã hóa Quyền ở can Ất rồi nên không thể hóa tiếp ở can Tân, đồng thời, c

Can Quý là can cuối cùng nên hóa Khoa có vai trò thúc đẩy chuyển hóa sang chu kỳ mới với sự khởi đầu của can Giáp, việc chuyển hóa đó chính là Thái dương có vai trò là "thiếu dương" có sẵn trong can Quý. Nếu Thái âm hóa Khoa thì lại trùng với can Canh là không phù hợp.

Chương 7 — THẾ MỆNH VÀ CÁC MỐI QUAN HỆ CÁ NHÂN

Mỗi một cá nhân khi sinh ra đời đã được định hình cho các mối quan hệ thân thuộc gồm ông bà, cha mẹ, bản thân và anh chị (nếu sinh sau) và

Vị trí cung Mệnh gọi là thế, như là nơi sinh ra, nơi sinh sống của mỗi người, cũng là nơi hình thành nên nhân cách, tính cách và các đặc điểm văn hóa nói riêng, ràng buộc bởi các mối quan hệ theo từng vị trí. Xử lý hài hòa được các mối quan hệ trong đời sống sẽ giúp cho mỗi người có được sự bình an, cân bằng.

Vị thế cung Mệnh ở đâu sẽ chịu ảnh hưởng bởi các mối quan hệ  hợp, hại, xung, đối của các cung địa bàn. Tùy từng vị trí mà các mối quan hệ cụ thể sẽ thay đổi. Trên cơ sở phân tích cụ thể các mối quan hệ này, mỗi người sẽ tự chủ, tùy điều kiện hoàn cảnh mà có những quyết định phù hợp.

Trước tiên, người học phải nắm được các khái niệm về hợp, hại, xung và đối như thế nào, sau đó có thể vận dụng, phát triển rộng hơn, gắn liền với các kiến thức, thực tế xã hội hiện đại.

Mối tương quan hợp là hai cung địa chi nằm ngang nhau, có xu hướng hợp lại làm một, có tính cộng hưởng gộp lại với nhau. Các cung tương hợp gồm: Tý hợp Sửu, Dần hợp Hợi, Mão hợp Tuất, Thìn hợp Dậu, Tị hợp Thân, Ngọ hợp Mùi. Khi các cặp Tý Sửu và Ngọ Mùi có Tuần ở giữa thì mức độ hợp sẽ mạnh hơn nhiều, các cung khác mà có Tuần thì sẽ có xu hướng hợp 3 cung lại (hai cung có Tuần và cung nhị hợp). Các trường hợp các cung nhị hợp có thể xảy ra gồm: tốt -- tốt, tốt -- xấu, xấu -- tốt, xấu -- xấu; khi đó phải xem xét thêm ngũ hành giữa hai cung hợp với nhau như thế nào để quyết đoán. Ví dụ, cung Ngọ Hỏa nhị hợp Mùi Thổ là Ngọ sinh hợp Mùi, nếu các sao trong cung Ngọ tốt thì sẽ tốt thêm rất nhiều cho cung Mùi, nhưng nếu cung Ngọ xấu thì sẽ ảnh hưởng rất lớn tới cung Mùi dù cho cung Mùi rất đẹp vì nguyên tắc gần mực thì đen.

Mối tương quan hại là hai cung ở thế theo chiều dọc trên dưới, có xu hướng đánh đổi, tỷ lệ nghịch với nhau, muốn được cái này phải hy sinh cái kia, bất lợi cái này thì tốt cái kia, hoặc xấu sẽ ảnh hưởng đến đẹp, kìm hãm, kiểm soát nhau. Các cung tương hại gồm: Mùi hại Tý, Ngọ hại Sửu, Tị hại Dần, Thìn hại Mão, Thân hại Hợi, Dậu hại Tuất. Tương hại tốt hay xấu còn tùy vào các sao trong các cung, tương quan nặng nhẹ, ít nhiều giữa trên và dưới.

Mối tương quan cân bằng (đối xứng) là các cung đối xứng nhau qua trục Dần Thân, có tác dụng tạo thế cân bằng lẫn nhau. Các cặp đối xứng qua trục Dần Thân gồm: Sửu đối xứng với Mão, Thìn đối xứng với Tý, Tị đối xứng với Hợi, Ngọ đối xứng với Tuất, Mùi đối xứng với Dậu. Điểm quan trọng là phải thiết lập được trục Dần Thân cho mỗi lá số, trục này gồm các cung gì thì phải chú trọng tạo dựng được sự ổn định, vững chắc thì các cung còn lại mới có tiền đề để đối xứng nhau. Ví dụ, trục Dần Thân gồm Bản thân và Di thì bản thân và quan hệ xã hội phải được rèn luyện cho vững vàng, có bản lĩnh, có quan hệ xã hội và có vị thế thì các vấn đề khác sẽ theo đó mà tạo thành sự thăng bằng với nhau.

Mối tương quan xung chiếu là các cung đối diện nhau có tác dụng hóa giải cho nhau, có thể phát huy ảnh hưởng của cung xung chiếu để hóa giải cho cung còn lại theo tương tác cộng hưởng (nhị hợp) hoặc tương tác chế ngự (nhị hại). Khi các cung ở thế nhị hại nhau, kìm kẹp, kiềm chế, kiểm soát lẫn nhau thì có thể dùng cung xung chiếu để hóa giải sự bất lợi của cung kia. Các cung xung chiếu gồm: Tý xung chiếu Ngọ, Sửu xung chiếu Mùi, Dần xung chiếu Thân, Mão xung chiếu Dậu, Thìn xung chiếu Tuất, Tị xung chiếu Hợi. Xung chiếu tốt hay xấu còn tùy thuộc vào nội dung sao ở trong cung, có thể tốt -- tốt, tốt -- xấu, xấu -- tốt, xấu -- xấu.

Cung Mệnh an tại cung Tý và Ngọ

Các mối quan hệ tương thuận

Bản thân và cha mẹ: có sự gắn kết chặt giữa bản thân và cha mẹ. Thừa hưởng tính cách, hình tướng của cha mẹ. Thường được cha mẹ, cấp trên ủy quyền, giao quyền hoặc bao bọc, bảo vệ, lo lắng. Lo cho mình cũng là lo cho cha mẹ, lo cho cha mẹ cũng là lo cho bản thân, nhỏ thì được cha mẹ lo lắng, lớn lên thì chăm lo cho cha mẹ lúc già.

Phúc đứcvà anh chị em: Phúc đứcgia đình thường có ảnh hưởng nhiều tới anh em, có sự đoàn kết gắn bó trong gia đình, dòng họ. Quan điểm, cách đối xử, cách sống với dòng họ, gia đình như thế nào thì cũng tương tự như đối với anh em.

Vợ chồng và nhà cửa, tài sản: hôn nhân hòa thuận giúp tăng tiến tài sản, quản lý tài sản tốt. Có thể lấy vợ, lấy chồng gần quê, cùng nơi làm việc.

Con cái và công việc: gây dựng cơ đồ của riêng mình, con cái sau này có thể kế thừa, tiếp quản sự nghiệp của bản thân. Công việc của bản thân cũng có ảnh hưởng lớn tới chăm sóc, nuôi dưỡng con cái.

Tiền bạc và bạn bè: có thể hợp tác làm ăn với bạn bè để tăng thu nhập, tăng lợi nhuận.

Sức khỏe, tai ách và môi trường xã hội:các mối quan hệ xã hội luôn đi liền với họa, phúc, may rủi. Do đó phải cẩn thận, tỉnh táo trong việc xác định các mối quan hệ có giá trị, có tính chân thành nhất.

Các mối quan hệ tương nghịch

Bản thân và sức khỏe, họa hại: biết kiểm soát bản thân hoặc bệnh tật, họa hại sẽ giúp cho bản thân đón lành, tránh dữ. Có thờ có thiêng, có kiêng có lành. Họa hại, bệnh tật do mình mà ra, nên không tự làm khổ mình chứ không ai làm hại mình được.

Cha mẹ và môi trường xã hội: đi xa, làm ăn xa thì không chu toàn chữ hiếu, chăm sóc được cha mẹ, nếu vì cha mẹ thì phải hạn chế đi xa, đi lại nhiều.

Phúc đứcvà bạn bè: kết giao bạn tốt thì phúc tốt, chơi với bạn xấu thì tổn phước, dễ bị mang họa vào thân. Ngoài ra, quan hệ tình cảm bên ngoài, với bạn bè phải cẩn thận.

Nhà cửa, nơi làm việc và công việc: có xu hướng làm việc xa nơi ở. Được lợi về địa lý, đường đi thì bất lợi về công việc, được lợi về công việc thì thường phải đi làm xa, làm với người ở xa.

Anh em và tiền bạc: trọng nghĩa khinh tài thì các mối quan hệ ổn định. Vì anh em thì phải nhường nhịn về tiền bạc, còn nếu vì tiền bạc không rõ ràng thì anh em dễ bất hòa.

Vợ chồng và con cái: tùy từng giai đoạn, điều kiện, hoàn cảnh mà có mối quan tâm dành cho vợ, chồng hơn hoặc dành cho con cái hơn. Thường là lúc trẻ thì mối quan tâm về con cái sẽ có chi phối mạnh đến quan hệ vợ chồng. Trường hợp này phải hết sức cẩn thận vì nếu không dung hòa mối quan hệ ưu tiên của mình với con hay với vợ, chồng thì dễ dẫn đến bất hòa, chia ly.

Các mối quan hệ cân bằng.

Cung Phúc đức, gia đình, dòng họ, thờ cúng, mồ mả và tiền bạc, tài chính, thu nhập ổn định sẽ tạo thành trục chính của cuộc đời. Từ hai lĩnh vực này sẽ tạo tiền đề cho các lĩnh vực còn lại của cuộc sống cân bằng, hài hòa với nhau.

Bản thân và công việc: bản thân vững vàng, ổn định về quan điểm, tư tưởng, sức khỏe, tự tin thì sẽ giúp công việc tốt, ổn định, phát triển và ngược lại, công việc ổn định, phát triển tốt, có định hướng rõ ràng thì bản thân được ổn định, vững vàng.

Cha mẹ, cấp trên và nhà cửa, tài sản, nơi làm việc: sự quan tâm, chăm sóc, có thái độ đúng mực với cha mẹ và đối với tài sản, nơi ở, nơi làm việc đều như nhau thì sẽ tạo sự ổn định cả về gia đình và an cư, lạc nghiệp, quản lý tài sản nói chung.

Anh em và bạn bè: coi trọng anh em như bạn bè, bạn bè như anh em. Các mối quan hệ này sẽ hỗ trợ đắc lực cho bản thân trong đời sống.

Vợ chồng và quan hệ xã hội, môi trường xã hội, hôn nhân ổn định, gắn kết là nền tảng cho tạo dựng thế đứng trong xã hội và phát triển các mối quan hệ xã hội. Đảm bảo không khép kín quan hệ xã hội hoặc cũng không quá chú trọng tới gia đình nói chung.

Con cái và sức khỏe: chăm lo cho con cái thì cũng là gìn giữ cho sức khỏe, kiểm soát họa hại, không làm khổ mình cũng là không làm khổ con cháu.

Cung Mệnh an tại cung Sửu và Mùi

 [Hình lá số --- không kèm trong bản chuyển đổi]

Các mối quan hệ tương thuận

Bản thân và anh em: có sự gắn kết chặt giữa bản thân và anh em, bản thân đóng vai trò như là anh em. Thừa hưởng tính cách, hình tướng của anh em.

Cha mẹ và vợ, chồng: cha mẹ sắp đặt hôn nhân cho bản thân, vợ, chồng có những hình tướng, tính nết hợp ý cha mẹ, hoặc lấy vợ, chồng là hình mẫu của cha mẹ.

Phúc đức và con cái: Phúc đức gia đình thường có ảnh hưởng nhiều tới con cái, con cái thừa hưởng những truyền thống của gia đình, dòng họ. Quan điểm, cách đối xử, cách sống với Phúc đức gia đình như thế nào thì cũng tương tự như đối với anh em.

Nhà cửa và tiền bạc: có sự liên thông, gắn kết chặt chẽ giữa tiền bạc và tài sản, tương trợ lẫn nhau, có tiền thì tích lũy tài sản, có tài sản, nơi ở, nơi làm việc tốt thì tiền bạc hanh thông, tài chính vượng phát.

Công việc và họa phúc, sức khỏe: coi trọng công việc như quan tâm tới sức khỏe, rủi ro công việc, nhờ đó có thể điều tiết, kiểm soát được công việc và họa hại, bệnh tật.

Bạn bè và môi trường xã hội: các mối quan hệ xã hội luôn gắn liền với bạn bè, đồng nghiệp, đi đâu cũng có kết giao, mở rộng quan hệ. Hình ảnh, vị thế của bản thân ngoài xã hội cũng không ngoài phạm vi quan điểm, sự nhìn nhận của người khác, của bạn bè đối với mình.

Vị trí cung Mệnh tại Sửu và Mùi thì tính gắn kết, liên kết các thành viên gia đình, các thế hệ gia đình rất chặt chẽ. Bản thân luôn tự hào hoặc phát huy những giá trị nền tảng của gia đình hoặc ngành nghề, lĩnh vực công việc.

Các mối quan hệ tương nghịch

Bản thân và bạn bè: sống có trách nhiệm với bạn bè, người khác. Tuy nhiên, đôi khi hay bị người khác áp đặt, ức chế, kiểm soát hoặc gây áp lực đối với bản thân. Tùy điều kiện hoàn cảnh mà vì bản thân hay vì người khác.

Cha mẹ và công việc: lựa chọn công việc, ngành nghề khác với mong muốn, định hướng của cha mẹ, đôi khi có thể vì công việc mà ảnh hưởng tới cha mẹ hoặc ít quan tâm chăm sóc cha mẹ hơn, hoặc cha mẹ hy sinh lợi ích để bản thân mình được như ý.

Phúc đức và nhà cửa, tài sản: gia đình, dòng họ, việc thờ cúng chịu ảnh hưởng bởi đất đai, nhà cửa, tài sản, có thể dẫn tới tranh giành, hoặc gặp bất lợi. Được việc chung thì hao tổn, bất lợi về nhà cửa, tài sản hoặc được lợi về nhà cửa, nơi làm việc, tài sản thì bất lợi về tập thể, lợi ích chung của gia đình, dòng họ.

Anh em và quan hệ xã hội: đôi khi vì người nhà mà bỏ qua các mối quan hệ xã hội, một giọt máu đào hơn ao nước lã, hoặc đôi khi vì người ngoài mà ít quan tâm, gắn bó với anh em trong nhà.

Vợ chồng và bệnh tật, họa hại: sức khỏe, bệnh tật, họa hại phát tác sẽ ảnh hưởng không tốt tới hôn nhân hoặc là thử thách đối với hôn nhân; ngược lại hôn nhân tốt thì sẽ hóa giải, chế áp được họa hại, bệnh tật.

Con cái và tiền bạc: vì con cái mà đầu tư tiền bạc, tài chính để chăm sóc, nuôi dạy, giáo dục hoặc bớt lo kiếm tiền; vì tiền bạc, lo lắng kiếm tiền mà ít quan tâm tới con cái, chăm sóc chu đáo. Tùy từng điều kiện, hoàn cảnh mà dung hòa mối quan hệ này.

Các mối quan hệ cân bằng

Cha mẹ và họa hại, bệnh tật, sức khỏe được xác lập ổn định sẽ tạo thành trục chính của cuộc đời. Chăm lo, phụng dưỡng cha mẹ tốt, có quan hệ tốt với bề trên và duy trì sức khỏe ổn định, kiểm soát được họa hại.

Bản thân và phúc đức: phúc tốt sẽ giúp bản thân ổn định, hoặc khi có sự phụng sự tận tụy với gia đình, dòng họ, ngành thì sẽ giúp bản thân tốt lên.

Anh chị em và nhà cửa, tài sản: quan hệ với anh em tốt thì sẽ hài hòa, ổn định, vượng phát về nhà cửa, đất đai, tài sản; có quan điểm, thái độ và quản lý tài sản, nhà cửa tốt thì quan hệ với anh em sẽ hòa thuận.

Công việc và hôn nhân: công việc tốt sẽ giúp hôn nhân ổn định, hôn nhân ổn định, hạnh phúc sẽ giúp công việc tốt.

Bạn bè và con cái: có quan hệ bạn bè tốt sẽ giúp con cái tốt hơn, quan tâm con cái, chăm sóc tốt thì mối quan hệ với những người khác cũng gắn kết, bền chặt.

Quan hệ xã hội và tiền bạc: quan hệ xã hội tốt thì cơ hội kiếm tiền, thu nhập ổn định, hoặc đi xa, làm việc với người ở xa thì có hiểu biết về tài chính, cơ hội về tiền bạc.

Cung Mệnh an tại cung Dần và Thân

Các mối quan hệ tương thuận

Bản thân và con cái: có sự gắn kết chặt giữa bản thân và con cái, chăm lo cho mình cũng là chăm lo cho con cái, quan tâm con cái là lo cho tương lai của mình sau này. Con cái chịu ảnh hưởng lớn từ bản thân.

Cha mẹ và tiền bạc: được thừa hưởng tiền bạc từ cha mẹ, có tiền bạc thường nhờ bề trên giúp đỡ, quản lý, gìn giữ. Tiền bạc vượng phát giúp cha mẹ có đời sống tốt hơn.

Phúc đức và họa hại, bệnh tật: Phúc đức tốt hóa giải tai ách, nhưng thường tốn tiền bạc. Họa phúc là hai mặt song hành cùng nhau nên trong họa có phúc, trong phúc có họa, người biết kiểm soát, biết ở hiền thì sang lọc được việc tốt để làm, việc xấu không làm thì được an lành, yên ổn vậy.

Nhà cửa, tài sản và quan hệ xã hội: đi xa, ra ngoài xã hội, mở rộng quan hệ thì có thể giúp gây dựng cơ đồ, nhà cửa, tài sản cho mình. Nhà ở có xu hướng ở xa, hoặc đi xa hay tạo dựng nơi ăn chốn ở ổn định, an cư lập nghiệp.

Công việc và bạn bè, cộng sự: có thể hợp tác làm ăn với bạn bè để tăng thu nhập, tăng lợi nhuận; trong công việc luôn có sự gắn kết với bạn bè, vì cộng đồng, hoặc có sự phối hợp, hợp tác. Mở rộng các mối quan hệ bạn bè từ công việc, nghề nghiệp.

Hôn nhân và anh em: hôn nhân gia đình chịu ảnh hưởng từ anh chị em trong nhà, có mối quan hệ tốt với anh chị em, hoặc được nhờ cậy các anh chị em.

Các mối quan hệ tương nghịch

Bản thân và nhà cửa, tài sản, nơi làm việc: bản thân chịu áp lực cao đối với nhà cửa, điền sản, cơ đồ sự nghiệp, hoặc phải phấn đấu, hy sinh lợi ích cá nhân để đạt được cơ đồ sự nghiệp, tài sản. Điền sản, nhà cửa xấu sẽ gây tác họa tới bản thân, đôi khi là của đi thay người.

Phúc đức và cha mẹ: cha mẹ ly hương sinh sống, làm ăn; cha mẹ không ở gần, ở cùng ông bà, gia đình, dòng họ; hoặc ở gần thì bất lợi.

Công việc và anh em: vì anh em thì công việc đôi khi gặp bất lợi, vì công việc phải hy sinh tình cảm anh em, không vì tình riêng mà hỏng công việc, hoặc nếu vì anh em thì phải bớt việc của bản thân.

Hôn nhân và bạn bè: thường phải lựa chọn giữa gia đình và bạn bè, tùy từng thời điểm, hoàn cảnh mà có ưu tiên hành động cho phù hợp, có thể vì hôn nhân gia đình, có thể vì bạn bè nếu vợ chồng đồng thuận.

Quan hệ xã hội và con cái: đi xa, sống ngoài xã hội nhiều thì tình cảm giữa bản thân và con cái không được gắn kết, hoặc không chăm sóc, nuôi dạy con được tốt. Ra ngoài xã hội gieo phúc thì con cái tốt, gây họa thì con cái phải gánh chịu.

Tiền bạc và họa hại, bệnh tật: bệnh tật họa hại phát tác thì hao tổn tiền bạc, nên luôn phải có tiền bạc dự phòng cho lúc già cả, đau ốm, hoặc phải dùng tiền tài đầu tư để nâng cao sức khỏe, giảm thiểu rủi ro, họa hại.

Các mối quan hệ cân bằng

Đây là trường hợp lấy bản thân và quan hệ xã hội làm trọng, khi xác lập được bản thân vững vàng, ra ngoài xã hội tạo dựng được uy tín, vị thế thì có thể cân bằng các lĩnh vực khác gồm gia đình và xã hội.

Cha mẹ và anh em: quan tâm chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ tốt thì quan hệ với anh em ổn định, hòa thuận; anh em tốt, cha mẹ ổn thì gia đình ổn định. Một người làm quan cả họ được nhờ.

Phúc đức và hôn nhân: tâm hướng về tạo phúc, gia đình, dòng họ, thờ cúng, có tâm với ngành nghề thì hôn nhân hòa hợp, đối tác công việc tốt. Vợ chồng hòa thuận thì việc thờ cúng, mồ mả gia tiên, việc gia đình, dòng họ được quan tâm đúng mực.

Nhà cửa, tài sản và con cái: ổn định nhà cửa, nơi ở, tích lũy tài sản thì con cái có điều kiện phát triển tốt, con cái chăm ngoan, học tập tốt thì tài sản, nhà cửa được tích tụ, vượng phát.

Công việc và tiền bạc: công việc ổn định, chuyên môn tốt thì thu nhập ổn định, tài chính phát triển; tiền bạc tốt có thể làm tiền đề cho phát triển công danh sự nghiệp, công việc.

Bạn bè và họa hại, bệnh tật: giao lưu, tiếp xúc bạn bè, cộng sự biết chọn lọc thì làm cho bệnh tật, họa hại được kiểm soát, cân bằng; họa hại, bệnh tật nặng hay nhẹ, tốt hay xấu đều phải biết quan tâm tới bạn bè, chọn bạn bè mà kết giao.

Cung Mệnh an tại cung Mão và Dậu

Các mối quan hệ tương thuận

Bản thân và bệnh tật, họa hại: chăm lo bản thân như sức khỏe, họa hại thì sẽ làm cho bản thân tốt lên nhiều, giảm thiểu rủi ro. Hình tướng và tính cách cũng phong phú, đa dạng, có chiều sâu. Quan hệ này giúp cho bản thân chủ động hơn trong việc xử lý các vấn đề cá nhân, họa hại và bệnh tật. Đôi khi bản thân có xu hướng ẩn đi.

Cha mẹ và quan hệ xã hội, xuất ngoại: ra ngoài xã hội thường có sự hỗ trợ của cha mẹ, cấp trên. Đi xa, ở xa thì quan hệ với cha mẹ và cấp trên tốt hơn, thường có xu hướng xa cha, mẹ.

Phúc đức, dòng họ và bạn bè, người khác: phúc xấu thì gia đình, dòng họ có người đa phu, đa thê thêm con cái khác dòng. Phúc tốt thì dòng họ đông người, có bạn bè giúp sức. Kết giao bạn tốt, giúp đỡ người khác, làm các công việc vì cộng đồng cũng là tạo phúc cho mình, đời sau, có phúc thì có bạn hữu tốt.

Nhà cửa, nơi làm việc và công danh, công việc: an cư lạc nghiệp, gây dựng sự nghiệp, công danh, công việc gắn liền với gây dựng tài sản. Nơi làm việc có thể là nơi ở hoặc nơi ở, nhà gần nơi làm việc. Có thể sản xuất, kinh doanh hàng hóa, bất động sản phù hợp nếu 2 cung này sáng sủa tốt đẹp, có sao lộc.

Anh chị em và tiền bạc: tiền bạc và anh em có sự gắn kết. Có tiền giúp đỡ anh em, anh em giúp đỡ nhau tiền bạc. Có thể kết hợp bản thân và anh chị em để làm ăn, hợp tác, hoặc nhờ anh chị em giúp đỡ hỗ trợ trong làm ăn, giữ gìn tiền bạc.

Vợ chồng và con cái: quan điểm coi vợ chồng, con cái luôn phải gắn kết chặt chẽ, có sự mong muốn, quan tâm đến gia đình nhiều hơn. Vợ chồng gắn bó với con cái, vì con cái; con thường chịu ảnh hưởng của vợ chồng, quan hệ vợ chồng, con cái thường giống về tính cách, hình tướng của cha hoặc mẹ.

Các mối quan hệ tương nghịch

Bản thân và cha mẹ: thường có ảnh hưởng bất lợi giữa bản thân và cha mẹ, có thể ở các cấp độ khác nhau, từ xa cách, bất hòa, không hợp tính nết, sinh ly, tử biệt... hoặc vì cha mẹ thì bản thân phải vất vả chăm sóc, phụng dưỡng, hoặc vì bản thân mình mà cha mẹ gặp bất lợi từ lúc thiếu thời hoặc về sau.

Anh chị em và phúc đức, dòng họ: có thêm anh em thì thường ảnh hưởng đến Phúc đức, hoặc có anh em thì gia đình hay có lục đục, ly tán, anh em ít hòa hợp. Phúc đứctốt thì anh chị em ít bị ảnh hưởng, khi Phúc đứckhông tốt thì tác động lớn tới anh chị em trong nhà, thường là ly hương hoặc bệnh tật.

Vợ chồng và nhà cửa, nơi làm việc: vợ chồng trục trặc thì hao tán tài sản, hoặc vì vợ, chồng thì tốn của, vì mỹ nhân mất nước, vì người yêu sẵn sàng bán cả cơ đồ, mua sắm tài sản, vì yêu mà tốn của. Quan điểm của vợ chồng không thống nhất về điền sản, nhà cửa, tài sản, đồ dùng. Hôn nhân với người ở xa quê hương, vì vợ chồng mà đi xa khỏi quê hương lập nghiệp.

Bệnh tật, họa hại và quan hệ xã hội, xuất ngoại: có thể gặp những bệnh tật, họa hại do đi xa, quan hệ xã hội gây ra; hoặc quan hệ xã hội, đi xa, xuất ngoại có thể hóa giải, chế ngự được các bệnh tật, họa hại của bản thân.

Tiền bạc và bạn bè, người khác: vì bạn bè, người làm, sử dụng nhân lực mà tốn tiền, nếu làm chủ thì tốn chi phí nhân công hoặc phải có chi phí cao mới tuyển được nhân sự như ý, mất tiền. Ngược lại vì tiền mà mất bạn, mất quan hệ, đối tác, như người sử dụng lao động thì cắt giảm lao động để tiết kiệm chi phí. Trọng nghĩa khinh tài thì đỡ thiệt hại. Ngoài ra, việc hợp tác trong làm ăn phải thận trọng, không dễ vì bạn mà hao tổn tài chính, tiền bạc.

Con cái và công danh, công việc: Có con ảnh hưởng công việc. Vì con mà chuyển đổi công việc, sắp xếp công việc cho phù hợp với con cái. Nếu vì công việc thì con cái không được chăm sóc, nuôi dạy tốt.

Các mối quan hệ cân bằng

Trục chính của lá số là bạn bè và anh em. Tạo lập được quan hệ bạn bè, xã hội ổn định, xác lập rõ các mối quan hệ anh em bền chặt thì các vấn đề khác của cuộc sống mới có nền tảng vững chắc để tạo lập sự cân bằng.

Bản thân và hôn nhân: đây là trường hợp khi xác lập được bản thân vững vàng thì hôn nhân mới ổn định, ngược lại hôn nhân hạnh phúc sẽ tạo cho bản thân một vị thế vững vàng, tự tin, phát triển.

Cha mẹ, cấp trên và con cái: sự quan tâm, chăm sóc, có thái độ đúng mực với cha mẹ cũng là cái gương cho con cái nhìn vào mà vì thế con cái sẽ phát triển như mong muốn, bản thân đối xử với con cái như thế nào thì cũng đối xử với cha mẹ như vậy.

Phúc đức và tiền bạc: uống nước nhớ nguồn, biết về gia tiên, dòng họ, tích lũy công hạnh, làm phúc giúp đời thì tài chính hanh thông, tiền bạc vượng phát; tiền bạc tốt hay xấu là do quan điểm với Phúc đức đúng hay sai.

Nhà cửa, nơi làm việc và bệnh tật, họa hại: khi nhà cửa, nơi làm việc ổn định thì họa hại sẽ giảm bớt; không kiểm soát được họa hại, bệnh tật thì nhà cửa, nơi ở, nơi làm việc, tài sản không gìn giữ được. Giữ nhà như giữ sức khỏe.

Công việc và quan hệ xã hội: công việc ổn định, có định hướng rõ ràng thì ra ngoài xã hội được vị nể, tôn trọng, tự tin; đi xa, xuất ngoại, thay đổi nơi ở, nơi làm việc được ổn định thì giúp công việc được vững vàng, có định hướng.

Cung Mệnh an tại cung Thìn và Tuất

 [Hình lá số --- không kèm trong bản chuyển đổi]

Các mối quan hệ tương thuận

Bản thân và bạn bè, người khác: bản thân và bạn bè, người khác có sự gắn bó chặt chẽ với nhau, nghĩ và hành động cho mình cũng là nghĩ và hành động cho người. Vì điểm này thì họa phúc hay dở của mình và của người khác là như nhau, không thể tư lợi mà được.

Cha mẹ và công việc: công việc, sự nghiệp là có sự định hướng, chi phối của cha mẹ, bề trên; làm công việc gì cũng hướng về bề trên.

Phúc đức và điền trạch: nhà cửa và nơi thờ cúng, mồ mả có sự gắn kết chặt. Có phúc có phần, kế thừa, thừa hưởng thành quả do tiền nhân để lại. Việc thờ cúng, mồ mả hoặc Phúc đứccó ảnh hưởng lớn tới nơi ở, nơi làm việc.

Anh em và quan hệ xã hội: các mối quan hệ xã hội có sự gắn bó, xu hướng gần gũi, mật thiết như anh em, có sự chọn lọc. Ra ngoài xã hội, kết giao cũng có sự ảnh hưởng, giới thiệu, kết nối nhờ anh em, bạn hữu thân thiết.

Hôn nhân và họa hại: hôn nhân tốt thì họa hại bớt, vợ chồng đồng thuận có thể hóa giải được bệnh họa, vợ, chồng giúp đỡ nhau trong lúc ốm đau, bệnh tật, họa hại. Đôi khi một trong hai người phải chịu ảnh hưởng bất lợi do bệnh tật, họa hại gây ra.

Con cái và tiền bạc: làm ra tiền bạc cũng để giành cho con cái, vì con cái, tương lai về sau mà lo làm ăn kiếm tiền, dành dụm tiền bạc. Hai lĩnh vực này được quan tâm đồng thời, như nhau.

Các mối quan hệ tương nghịch

Bản thân và anh chị em: ở gần, làm cùng thì quan hệ tình cảm hoặc vận khí không thuận lợi bằng ở xa, làm xa nhau; vì anh em thì bản thân phải cực nhọc vất vả, hy sinh, nếu vì bản thân mình thì anh em bị thiệt thòi.

Cha mẹ và vợ, hôn nhân: bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn, hay gặp cảnh lúc có việc thì cả cha mẹ và vợ, chồng đều cần đến mình, phải cân nhắc, đánh giá ưu tiên cho bên nào hơn thì phải dành thời gian, quan tâm hơn cho bên đó trước. Không nên phân biệt tình và hiếu vì dễ bị đứng giữa phân xử giữa quan hệ với cha mẹ và quan hệ vợ chồng.

Phúc đức và con cái: nếu không quan tâm con cái tốt thì sẽ ảnh hưởng tới phúc đức, không nhờ cậy về sau, dòng họ suy giảm, đôi khi có sự hoán đổi thế hệ, tre già thì măng mới mọc, ông bà mất đi thì mới thêm con cháu. Ra ngoài làm việc thì vì việc chung thì sẽ phải nghiêm với cấp dưới, nếu để buông lỏng cấp dưới thì sẽ ảnh hưởng tới uy tín, danh dự của ngành nghề, lĩnh vực.

Tiền bạc và điền sản, nhà cửa: chi phí mua sắm hoặc suất đầu tư cao. Vì nhà cửa, tài sản thì phải chi tiêu lớn hơn dự tính. Vì tiền bạc thì phải đầu tư tài sản lớn hơn, hoặc phải bán bớt tài sản đi. Trong làm ăn, sản xuất, kinh doanh thì hay phải đầu tư cao, suất đầu tư cao mới sinh được lợi nhuận như ý.

Công việc và họa hại, bệnh tật: công việc phải biết cân đối hài hòa để không bị mắc bệnh, họa nghề nghiệp, sinh nghề tử nghiệp. Đôi khi hay làm việc quên giờ giấc, hoặc quên chăm sóc sức khỏe cho bản thân.

Quan hệ xã hội và bạn bè: vì bạn bè, người khác thì phải bớt thể hiện bản thân mình, hoặc nếu vì hình ảnh bản thân ngoài xã hội thì phải hơn người, chế ngự người khác.

Lưu ý rằng, cung Bản thân ở hai vị trí này thì thường làm gì cũng phải gian nan vất vả, đầu tư công sức nhiều hơn, suất đầu tư cao thì mới thành công được. Nhưng có một điểm rất hay là trong cái thế nửa đục nửa trong, nửa tối nửa sáng, ngàn cân treo sợi tóc mà tâm cơ tốt có thể làm được đại sự.

Các mối quan hệ cân bằng

Trục chính của lá số là công việc và hôn nhân. Tạo lập được công việc ổn định, hôn nhân gắn bó thì các vấn đề khác của cuộc sống mới có được sự cân bằng.

Bản thân và tài chính: muốn tiền bạc vượng phát, thì bản thân phải ổn định về tâm lý, tư tưởng, sức khỏe. Bản thân ổn định thì tiền bạc sẽ ổn định.

Cha mẹ và họa hại, bệnh tật: chăm lo cha mẹ tốt thì họa hại sẽ bớt. Bớt họa hại, bệnh tật thì cha mẹ sẽ yên ổn.

Phúc đức và quan hệ xã hội: chăm lo thờ cúng, mồ mả, tích đức tích phúc, làm thiện thì ra ngoài xã hội được coi trọng, bản thân có quan hệ tốt, yên ổn. Có quan hệ xã hội tốt, giao lưu người tốt, làm việc tốt thì Phúc đứctăng trưởng, yên ổn.

Nhà cửa, tài sản và bạn bè: nơi ở, nơi làm việc, tài sản ổn định thì bạn bè kết giao tốt, bạn bè tốt thì nhà cửa, tài sản vững chắc, phát triển. Coi bạn tốt như của tốt, của tốt như bạn tốt.

Con cái và anh em: con cái ổn định, chăm lo dạy bảo tốt thì quan hệ anh em ổn định. Sự quan tâm, ứng xử của bản thân đối với con cái và anh chị em có sự hài hòa, cân đối thì cũng sẽ tạo được tính ổn định trong các mối quan hệ gia đình.

Cung Mệnh an tại cung Tị và Hợi

 [Hình lá số --- không kèm trong bản chuyển đổi]

Các mối quan hệ tương thuận

Bản thân và nhà cửa, tài sản: có sự gắn kết chặt giữa bản thân và nhà cửa, tài sản, nơi ở; thường coi mình và vật như một, đi đâu tùy nghi.

Phúc đức và cha mẹ: Phúc đứcgia đình thường có ảnh hưởng nhiều tới cha mẹ, cha mẹ thường ở với ông bà, phụng dưỡng ông bà hoặc thờ phụng gia tiên, chăm nom mồ mả, giữ gìn truyền thống gia đình.

Anh em và công việc: công việc chịu ảnh hưởng của anh chị em, anh chị em giúp cho công việc được hanh thông, thuận lợi hơn. Có thể cùng nhau hợp tác, cộng tác trong công việc.

Hôn nhân và bạn bè: hôn nhân tốt thì bạn bè tốt, cả hai lĩnh vực đều được coi trọng như nhau.

Con cái và quan hệ xã hội: quan hệ xã hội, đi xa, thay đổi môi trường sống tốt sẽ giúp cho con cái phát triển tốt, ngược lại, môi trường sống, quan hệ xã hội không tốt thì ảnh hưởng tới con cái. Con cái sau này được nhờ cậy vào các mối quan hệ xã hội của bản thân.

Tiền bạc và bệnh tật, họa hại: tiền bạc cũng là họa hại, bệnh tật nên quản lý được tiền bạc thì bớt họa hại bệnh tật, kiểm soát được bệnh tật, họa hại thì cũng là làm ra tiền bạc.

Các mối quan hệ tương nghịch

Bản thân và con cái: vì con cái, tương lai của bản thân sau này mà hi sinh bản thân, chịu khó vất vả; không quan tâm đến con cái thì chúng sẽ là gánh nặng đối với bản thân.

Cha mẹ và tiền bạc: vì cha mẹ thì phải bớt đi lợi ích tiền bạc, còn vì tiền bạc thì quan hệ với cha mẹ không thuận hòa, đồng tiền làm mất nhân nghĩa.

Phúc đức và bệnh tật, họa hại: bệnh tật, họa hại sẽ làm tổn phước đức rất lớn, nên phải biết giữ gìn sức khỏe, hạn chế thấp nhất tác họa cũng là cách tăng Phúc đứclên. Phúc đứcxấu thì sẽ giáng họa ngay lập tức, nhất là về sức khỏe, bệnh tật và các tai chướng.

Nhà cửa, nơi làm việc và quan hệ xã hội, đi xa: đi nhiều, xuất ngoại hoặc đi xa thường xuyên sẽ ảnh hưởng tới nhà cửa, mái ấm; tùy công việc mà cân đối việc đi ra ngoài và giành thời gian cho gia đình.

Anh em và hôn nhân: phải biết cân đối hài hòa mối quan hệ giữa anh chị em trong gia đình (hai bên) và vợ chồng; nhất là các trường hợp "giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng".

Công việc và bạn bè: công thành danh toại, vì lợi ích riêng thì sẽ mâu thuẫn với bạn bè, cộng sự; vì bạn bè thì nên công thành danh thoái, vì lợi ích chung sẽ được thuận cả đôi đường.

*Các mối quan hệ cân bằng

Lĩnh vực nhà cửa, tài sản và con cái được xác lập ổn định sẽ tạo thế cân bằng cho các quan hệ còn lại của đời sống.

Bản thân và quan hệ xã hội: bản thân vững vàng, ổn định về quan điểm, tư tưởng, sức khỏe, tự tin thì ra ngoài xã hội mới có vị thế, uy tín tốt; ra ngoài xã hội tốt, đi xa học hỏi được nhiều sẽ giúp bản thân vững vàng, ổn định hơn.

Cha mẹ, cấp trên và bạn bè: quan tâm tới bạn bè như thế nào thì cũng quan tâm, báo hiếu, phụng dưỡng cha mẹ như vậy. Đối xử với cha mẹ như thế nào thì cũng đối xử với người ngoài như vậy, không có sự phân biệt.

Phúc đức và công việc: biết tích lũy công đức, làm việc thiện, việc tốt, có lòng với gia đình, dòng họ hoặc ngành nghề sẽ giúp cho công việc ổn định, vững vàng. Xác định quan điểm làm việc tốt, công danh sự nghiệp tốt thì gia đình, dòng họ, tạo được Phúc đứctốt.

Anh em và bệnh tật, họa hại: quan hệ anh em tốt, quan tâm tới anh chị em sẽ giúp cân bằng hài hòa đến sức khỏe, họa hại; anh chị em có thể giúp hóa giải về họa hại, bệnh tật.

Vợ chồng và tiền bạc: vợ chồng hòa thuận sẽ giúp cho tài chính ổn định, tài chính ổn định, thu nhập tốt sẽ giúp cho hôn nhân bền vững.

Chương 8 — VỊ TRÍ TỬ VI VÀ PHONG CÁCH CÁ NHÂN

Tử vi là ngôi sao đứng đầu của môn Tử vi nên có thể xem mỗi một vị trí của Tử vi sẽ hình thành thể chế, thiết chế vận hành của một triều đại. Từ thể chế, chế độ đó các quan sẽ được sử dụng vai trò như thế nào, các chính sách, luật lệ ban hành ra sao thì người dân cứ chiếu theo đó mà hành xử cho đúng phép tắc, làm sai thì sẽ bị xử tội. Giai đoạn cai trị của mỗi ông vua cũng chính là thời vận của mỗi triều đại. Vì thế, khái niệm Thời được sử dụng để quy ước cho vị trí của sao Tử vi ở các cung khác nhau trên địa bàn.

Ứng dụng vào môn Tử vi, việc xem sao Tử vi ở đâu chỉ ra các môi trường sống, làm việc và phong cách sống phù hợp làm định hướng cho mọi hành động để đạt thành công cao nhất. Đối với cá nhân, Thời có những đặc điểm chung nhưng cũng có những điểm riêng nhất định tùy thuộc vào vị thế của họ giống như cùng ngồi ăn trong một mâm cỗ, cùng ở chung một nhà, cùng chung một công ty, cùng chung một đất nước nên có những nét tương đồng. Vì vậy, cách ứng xử hợp Thời tương tự câu "Nhập gia tùy tục, đáo giang tùy khúc", hoặc "Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài". Đối với một đất nước hoặc thế giới, Thời là thể chế, cách thức hoạt động của các chính phủ, tổ chức mà nó sẽ tác động đến cộng đồng.

Mỗi thời thường có những đặc điểm điển hình, hoặc tuy có chung đặc điểm nhưng mức độ biểu hiện khác nhau. Ví dụ, cùng là chữ tín (đúng hẹn, niềm tin…) nhưng thời Độc lập là sự ngưỡng mộ, tin dùng người tài; thời Dân chủ là sự tin sâu nhân quả, tín ngưỡng; thời Hệ thống là sự hiểu biết sâu sắc lẫn nhau mà gắn bó lâu dài… Để thuận tiện cho việc học, tài liệu này gộp 12 vị trí sao Tử vi lại còn 6 thời.

Sao Tử vi tại cung Tý, Ngọ - Phong cách Độc lập

** [Hình lá số --- không kèm trong bản chuyển đổi] **

* Sao Tử vi ở cung Tý và Ngọ*

Đặc điểm hình tượng/phong cách:

Hình tượng là vua lên ngôi lúc còn nhỏ (Tử vi ở cung Tý) hoặc lúc đã trung niên (Tử vi ở cung Ngọ), tổ chức triều đình là vua đứng đầu có các quan đại thần giỏi phụ tá, biên cương được giao cho tướng uy dũng trấn giữ. Thể chế coi trọng người đứng đầu, công thần khai quốc, tứ trụ triều đình, tướng giỏi trấn giữ biên cương, bảo vệ lãnh thổ.

Coi trọng những người có năng lực, chuyên về một lĩnh vực, độc lập về vị trí nhưng phục vụ cho mục đích chung, lý tưởng chung, lãnh đạo chung trong một bộ máy, ê kíp, đội nhóm thống nhất.

Có sự phân định rõ ràng về tôn ti, trật tự, thứ bậc, chức năng, nhiệm vụ. Phù hợp với các công việc có tính độc quyền, độc lập, khai sáng, sáng lập, khởi sự.

Có tính sở hữu cao đối với tài sản, đồ dùng, vật dụng, công việc, con người, những thứ do mình quản lý.

Có những nhân tố trẻ, dù năng lực chưa tương xứng với vị trí, nhưng vẫn có thể làm lãnh đạo, đứng đầu khi nhận được sự ủng hộ. Phù hợp với những người sớm thành danh, hoặc thành danh rất muộn.

Có những nhân tố có cá tính, lập dị, khác biệt so với phần còn lại, không lẫn với ai. Trong gia đình thường chỉ có một người nổi trội, làm chủ, trụ cột gia đình, chồng tiến vợ lùi, chồng lùi vợ tiến. Ra ngoài xã hội, làm việc luôn có người làm lãnh đạo chủ chốt, chịu trách nhiệm chính.

Thường có những thần tượng, hình ảnh mẫu để làm mục tiêu phấn đấu. Có tính thừa kế, kế thừa, cha truyền con nối giữa các thế hệ, có sự chuyển giao "quyền lực"  từ người này qua người khác.

Mọi việc đều xác định cho mình những điểm tựa nhất định (nhân lực, con người, tài chính, công nghệ, quan hệ, pháp lý,...). Trong mọi việc nên chú trọng vào nhân hòa, đắc nhân tâm, thu phục lòng người, sự ủng hộ cao thì mới đảm bảo được sự thành công (lưu ý rằng sự đồng tình, đồng ý chưa phải là thành công, mà phải là sự ủng hộ cao độ). Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ là cách tôn trọng ý kiến, tham khảo ý kiến của mọi người trong các công việc.

Có sự thống nhất bàn bạc về chủ trương, đường lối, biện pháp trước và có người chịu trách nhiệm lãnh đạo quyết định sự việc. Tránh việc tranh giành, chồng lấn vị trí và trách nhiệm, nếu không sẽ dẫn tới xung đột và đổ vỡ.

Những người thuộc nhóm này gồm: **** người sáng lập, gây dựng sự nghiệp mới, công thần khai quốc, những người có vai trò trọng yếu đối lập với những người bình thường nhưng cũng được tham gia nhóm. Người giỏi thu phục nhân tâm. Kinh doanh độc quyền, công việc về bản quyền, sở hữu trí tuệ. Quản lý, trưởng nhóm, trưởng bộ phận. Chuyên gia độc lập. Người có uy tín, địa vị.

Sao Tử vi và Phá quân tại cung Sửu, Mùi -- Phong cách Đổi mới

 [Hình lá số --- không kèm trong bản chuyển đổi]

Sao Tử vi ở cung Sửu, Mùi

Đặc điểm hình tượng/phong cách:

Hình tượng là vua đi mở rộng biên cương, bờ cõi có tướng giỏi về đổi mới, phát triển phò tá. Sau khi lập nước, tổ chức triều định, xác định biên giới xong thì đến giai đoạn phát triển đất nước, mở mang bờ cõi, đẩy mạnh cải cách, đổi mới, lo cho đời sống của dân chúng.

Hình thành hai nhóm phong cách: đổi mới về tư duy và ổn định về hành vi, hình thành các thói quen, nề nếp, phong tục tập quán.

Xu hướng đổi mới, phát triển, mở rộng, tiên phong, đi đầu, đột phá, sáng tạo trong các mặt của xã hội (phát triển theo các hướng của không gian, thời gian, trí tuệ...).

Sự cố chấp, bảo thủ, trì trệ, chậm chạp thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận các vấn đề mới, tri thức mới cũng như tận dụng các cơ hội.

Các công việc về hành chính, văn phòng, tư duy, trí tuệ, giáo dục, nghiên cứu và phát triển có cơ hội phát triển mạnh.

Sự đối lập về âm dương, giữa mới và cũ, giữa ngày và đêm, giữa quá khứ và tương lai, giữa bảo tồn và phát triển diễn ra gay gắt. Xé rào và giữ rào. Có những người sẽ gặp vướng mắc về quy định, quy chế, quy tắc, nguyên tắc, pháp luật (nặng nhất là bị xử tội, xử tù, nhẹ hơn là các khó khăn khi thực hiện các thủ tục hành chính). Nhưng cũng có những người sẽ có tư duy đột phá, đi trước thiên hạ, sáng tạo mà thành tựu nhiều năm sau người đời mới nhận ra được.

Những giá trị cốt lõi, chân lý, định lý sẽ luôn duy trì được giá trị trong thời đại này như ngọc vẫn luôn luôn sáng.

Sự khéo léo, quyền biến, dẻo dai mà mạnh mẽ, có kế hoạch, có sự hành động hợp, khéo, khớp với sự vận động của trời đất, xã hội, có máy móc, thiết bị, cơ động hỗ trợ luôn có vị thế cao.

Có sự khéo léo về kỹ năng, sáng tạo trong lao động, trăm hay không bằng tay quen. Sự  nhân hậu, bao dung, độ lượng, khoan hòa, kết hợp cả mới lẫn cũ cũng hợp thời đại.

Muốn xã hội, con người thay đổi thì phải có chế tài xử phạt thật mạnh thì mới bắt họ tuân theo cái mới. Có những người, việc vì có tầm nhìn, đi trước xã hội mà có thể bị xử lý, nhưng chân lý mà họ phát hiện ra sẽ được khẳng định sau này.

Trong kinh doanh, làm ăn thì là người đi trước, đón đầu, hớt váng, đổi mới, sáng tạo, liều lĩnh, dám nghĩ dám làm, cơ hội cũng là rủi ro và ngược lại rủi ro là cơ hội.

Việc đổi mới, sáng tạo, cải cách giống như cá chép vượt vũ môn hóa rồng, cần phải có sự nỗ lực và quyết tâm rất lớn và có niềm tin chắc chắn vào tương lai; việc tham mưu, trợ giúp, lập kế hoạch cho việc đổi mới, sáng tạo phải có sự thẩm định, kiểm soát của bộ phận có tính chất ôn hòa, tổng quát; sự sáng tạo kỹ năng, nâng cao năng suất lao động cần phải chú ý về hiệu suất, công suất năng lượng, thiết bị; khi được khuyến khích cho sáng tạo, đổi mới cũng không vì thế mà vi phạm các quy chế, quy định, pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng.

Những người thuộc nhóm này gồm: người có tư tưởng sáng tạo, tiên phong, đổi mới, cách mạng; kinh doanh theo phong cách hớt váng, phá băng, đầu tư mạo hiểm; luật sư, người làm việc liên quan tới luật pháp, pháp chế; nhà nghiên cứu và phát triển; công việc đòi hỏi kỹ năng (tay quen) như thợ thủ công, kỹ thuật viên, thợ lành nghề, thành thạo trong thao tác, xử lý; chuyên gia khám phá, thăm dò; bảo tồn, bảo tàng, sưu tầm đồ cổ, báu vật.

Sao Tử vi và Thiên phủ tại cung Dần, Thân -- Phong cách Thịnh Vượng

Sao Tử vi ở cung Dần, Thân

****\

Đặc điểm hình tượng/phong cách:

Hình tượng là đất nước thịnh vượng, khắp đất trời nở hoa (Mãn thiên hoa vũ) được tiếp theo giai đoạn sau khi đổi mới, đất nước có những phát triển lớn mạnh, yên ổn, thái bình, vua tôi cùng chung vui hưởng cảnh bình yên, thịnh vượng, người người, nhà nhà đều no ấm, đầy đủ.

Có sự hài hòa về quyền và lợi ích của các bên. Nhóm xây dựng và nhóm phát triển, nhóm chỉ đạo và nhóm điều hành có chung lợi ích và cùng chí hướng.

Các lĩnh vực phát triển đồng đều, được coi trọng như nhau. Có tính ổn định, hài hòa và phát triển, thịnh vượng, nhà nhà ấm no, người người hạnh phúc.

Phong cách khoan thai, đủng đỉnh, yêu cầu cao, có điều kiện tiếp xúc với những người có địa vị xã hội cao.

Luôn ở mức khá trong môi trường sống, hoặc sống trong môi trường có điều kiện khá giả. Ngại sự thay đổi, bằng lòng với những gì đã có, không thích sự đánh đổi, hy sinh, đổi chác có tính rủi ro cao.

Luôn duy trì tính hài hòa, ổn định, thịnh vượng, phát triển; nhờ đó giúp cho người thân ở bên có được sự phát triển, thịnh vượng trong cuộc sống đối với người trong gia đình và nơi làm việc.

Những người thuộc nhóm này gồm: kinh doanh hàng hiệu, các công việc có tầm cỡ, quy mô cao; thể thao vua, nhạc thính phòng, giao hưởng; duy trì sự bình ổn, ổn định; nhóm công việc đòi hỏi trình độ, hình thức, nhân lực giỏi; quản lý cao cấp, chuyên gia cao cấp; người làm việc trong môi trường sang trọng, giàu có.

Sao Tử vi và Tham lang ở cung Mão, Dậu -- Phong cách Dân chủ

Sao Tử vi ở cung Mão, Dậu

****\

Đặc điểm hình tượng/phong cách:

Hình thức bên ngoài và bản chất bên trong thường trái ngược.Giỏi biến hoá, xử lý tình huống, đóng kịch, giả vờ. Tính gắn kết, cam kết lâu dài không cao. Dễ được dễ mất, lên nhanh xuống nhanh

Hình tượng là vua đi vi hành hoặc thoái vị nhường ngôi để đi tu, có sự suy thoái về các giá trị từ thời thịnh vượng chuyển sang suy thoái. Có sự ngụy trang, thay đổi hình dạng, hình thức bên ngoài so với thực chất bên trọng, hình thức bên ngoài khác, trái ngược với bản chất bên trong.

Đây là đặc điểm của nghịch cảnh như bên trong và bên ngoài đối lập nhau, nên từ đây mà suy xét cho tất cả các sự vật, hiện tượng liên quan tới bản thân, cuộc sống của người có Tử vi Tham lang ở cung Mão và cung Dậu.

Có sự bình dân, dân chủ, có cơ hội cho người cao xuống thấp, người thấp lên cao, hòa đồng.

Thay đổi, thăng trầm lên xuống nhanh, bất ngờ. Có sự hy sinh, cởi bỏ, buông xả nên có thể vì việc mà bản thân yêu thích, có mục đích mà hy sinh thứ khác để thực hiện. Đây cũng là cách, dấu hiệu của sự tu hành như buông xả, cởi bỏ, hy sinh.

Sự thiện lương được đánh giá cao. Sự hiểu biết, chính trực, chính khí, đàng hoàng được ghi nhận.

Việc hành động quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, chuyển đổi sát cơ thành sinh cơ được ghi nhận. Thiên cơ có thể xoay vần, chuyển đổi mà các điều không ngờ tới có thể xuất hiện.

Sự bao dung, nhân hòa, độ lượng được phát huy. Sự thay đổi thất thường không được đánh giá cao.

Sự quản lý, bao trùm, độc lập, tự chủ được tôn trọng, tạo sự cân bằng đối với sự ngụy trang, cải tràng.

Biến đổi nhanh chóng, nhanh được nhanh mất, thay đổi thất thường, lên xuống từ đáy lên đỉnh, từ đỉnh xuống đáy, có tính linh hoạt, thích ứng cao.

Hình thức bên ngoài và nội dung bên trong trái ngược. Thùng rỗng kêu to, đầu voi đuôi chuột, có đầu không có đuôi, đám cưới to hôn nhân nhỏ, nhà to tổ ấm bé, rực rỡ bên ngoài mà sơ sài bên trong, tốt gỗ hơn tốt nước sơn, nước đến chân mới nhảy, no dồn đói góp, làm việc ngẫu hứng phụ thuộc cảm xúc,…

Những người thuộc nhóm này gồm: người tu hành, quân tử ẩn mình, tiểu nhân lộ tướng; làm các công việc có tính chất mùa vụ, thời vụ, thời điểm; các ngành nghề lĩnh vực vui chơi, giải trí, hưởng thụ; công việc có tính chất cảm xúc, tinh thần; các lĩnh vực tâm linh, nghệ thuật, ngụy trang.

Sao Tử vi và Thiên tướng ở cung Thìn, Tuất -- Phong cách Đa dạng

 [Hình lá số --- không kèm trong bản chuyển đổi]

Sao Tử vi ở cung Thìn, Tuất

****\

Đặc điểm hình tượng/phong cách:

Hình tượng là "loạn" hoặc "hành động" hoặc "trăm hoa đua nở" có sự phân hóa, bộc lộ hết các mặt, các yếu tố trong xã hội về cơ cấu tổ chức, về con người, về các giá trị. Đây là giai đoạn tiếp nối của giai đoạn suy thoái dẫn đến phân hóa, tạo nên sự phong phú, đa dạng, có sự vận động không ngừng, có sự cân bằng, đồng đều các mặt trong xã hội (50/50) không có yếu tố nào nổi trội hẳn.

Về cơ cấu tổ chức hay có sự đa dạng về thành phần, liên danh, liên kết, chiến lược cài răng lược.

Thời của những nhân tố hành động, lời nói đi đôi với việc làm, hoặc đánh giá chú trọng vào kết quả của việc làm, thay vì lời nói.

Năng động, sáng tạo, có nhiều phương án, giải pháp trong công việc, trong các quyết định. Tạo được nhiều cơ hội về công việc. Có thể kiêm nhiệm, làm nhiều việc cùng lúc.

Luôn luôn vận động, cuộc sống là sự cân bằng động, không quá chú trọng hoặc thiên lệch vào một lĩnh vực nào đó.

Có sự trùng trùng, lặp lặp (con số, sự việc, tên gọi). Được ăn cả, ngã về không, tốt thì được tốt thêm, xấu thì hay có xấu thêm (giậu đổ bìm leo). Mâu thuẫn, đối lập, bối rối, không nhất quán.

Phù hợp với các công việc có tính trung gian, trung hòa, trung lập, sôi nổi, hành động như môi giới, kinh doanh, trọng tài, quan tòa, nhân sự, tổ chức cán bộ, các công việc về nghệ thuật, hoạt náo, thể thao, công trình, các công việc có tính chất nặng nhọc,…

Cả nể, dung hòa, bao dung, chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt, có thể tích hợp được rất nhiều các quan điểm khác nhau.

Không có gì đúng tuyệt đối, không có gì là có giá trị tuyệt đối; có tính chất tương đối. Có nhiều lựa chọn hoặc có nhiều phương án xử lý công việc.

Những người thuộc nhóm này gồm: người, công việc có tính chất trung gian, khách quan, không thiên vị, tôn trọng sự khác biệt, sử dụng phiếu bầu biểu quyết theo tỷ lệ; thành viên hội đồng, quốc hội, nghị viện; quan tòa, trọng tài, môi giới, trung gian, tổ chức cán bộ, nhân sự; kinh doanh, kinh doanh cạnh tranh, marketing, chuyên viên bán hàng, hoạt náo viên, công trình, xây dựng, các công việc vất vả, phải luôn hành động, hoạt động, lực lượng tác chiến, chiến đấu; nghệ thuật, giải trí, các công việc có tính chất sôi động, náo nhiệt.

Sao Tử vi và Thất sát ở cung Tị, Hợi -- Phong cách Hệ thống

Sao Tử vi ở cung Tị, Hợi

Đặc điểm hình tượng/phong cách:

Hình tượng là vua sử dụng dũng tướng để thanh trừng, phân định lại trật tự, đúng sai, minh bạch, hệ thống, giá trị của xã hội, xử lý các đối tượng bất phục, không vào phe cánh, không cùng chí hướng. Trước khi hành động bao giờ cũng có sự bàn bạc, lên kế hoạch, thống nhất cách thức hành động, ra tín hiệu, ám hiệu, có sự ngầm hiểu nhau trong quá trình thực hiện, hành động để xử lý người, xử lý việc theo kế hoạch đã đề ra.

Có sự tin cậy giữa vua (chỉ đạo) và tướng (thực hiện), nếu không có sự chuẩn bị kỹ, hoặc tướng nhận tín hiệu, ám hiệu sai từ vua, hoặc hành động bộp chộp, vội vàng là sai việc, hỏng việc.

Ý tưởng, lời nói, hành động luôn thống nhất, xuyên suốt, không thay đổi. Có tính liên tục, có tính đầu cuối, từ ý tưởng, kế hoạch, hành động, kết quả. Từ đây, suy ra có tính gắn kết, tính thủy chung, tính gắn bó.

Có sự phân tách giữa chính và tà, đúng và sai, đen và trắng, có sự phân minh, rõ ràng, không có sự pha trộn, có sự thuần chủng, thuần khiết. Mọi mối quan hệ đều dựa trên tính đồng sở thích, cùng nhóm, cùng hội, cùng thuyền.

Có tính tác động đến cộng đồng, số đông, có tính định hướng mạnh. Có tính bảo thủ, tính kiên định cao. Sẵn sàng chờ đợi lâu dài để được cống hiến.

Chú trọng về chất lượng, hiệu suất trước rồi mới đến số lượng, lợi nhuận sau. Tạo lập công danh trước rồi mới tính đến bổng lộc sau.

Trong kinh doanh là tạo dựng uy tín, thương hiệu trước rồi mới tính đến lợi nhuận, hoặc kinh doanh hệ thống, đa cấp.

Những người thuộc nhóm này là những người lập kế hoạch, lập trình, phân loại, có tính chuyên môn cao, có tính hệ thống, điều khiển học, tự động hóa, thủ thư, quản lý thư viện, quản lý hệ thống, quản lý chuỗi, các nhà tư tưởng.

Những người không vào "hệ" thì sẽ trở thành lưu vong, đào tẩu, bị cô lập. Không có "không gian" giành cho những người ba phải, quan điểm lập trường không rõ ràng.

Có thể làm chủ số phận ngay từ đầu, trước khi ra mỗi quyết định dù lớn hay nhỏ. Nếu kế hoạch đã có sự đúng đắn, chuẩn mực, chắc chắn thì khả năng thành công rất cao.

Những người thuộc nhóm này gồm: lập trình viên, tự động hóa, quản lý hệ thống; quản lý thư viện, kho, ISO, quản lý chất lượng, hiệu suất; chuyên gia, chuyên sâu về một lĩnh vực, nhà thuyết giáo, lập thuyết, tư tưởng học, giáo viên, chiến lược gia, lập kế hoạch; kinh doanh thương hiệu, đa cấp.

Chương 9 — VẬN TRONG TỬ VI

Khái niệm

Vận là khoảng thời gian nhất định trong mỗi giai đoạn cuộc đời con người. Vận có thể ngắn, dài gồm các cấp độ: phút, giờ, ngày, tháng, năm, 10 năm, hoặc các khoảng thời gian nhất định như tiền vận, trung vận, hậu vận, hoặc trước 30 tuổi và sau 30 tuổi.

Tài liệu này dung từ vận nhất quán phản ánh tính khách quan, để tránh hiểu lầm khái niệm như nhiều người hay dung từ hạn theo nghĩa tiêu cực.

Vận chính là những chuyển biến, thay đổi khác nhau qua mỗi giai đoạn của đời sống mỗi cá nhân, vì vậy, có những việc sẽ có tính cố định, nhưng phần nhiều là có sự thay đổi, chuyển biến, vận động liên tục. Tốt hay xấu còn phụ thuộc vào quan điểm và hành động của mỗi người.

Xem vận là phần khó trong việc luận lá số Tử vi, nó đòi hỏi có phương pháp luận rõ ràng, kiến thức cơ bản về các cung, các sao, kiến thức và kinh nghiệm sống phong phú, có sự chiêm nghiệm các sự việc trong cuộc sống hàng ngày thường xuyên, liên tục một thời gian thì sẽ lĩnh hội được rất nhiều kiến thức do người xưa để lại.

 [Hình lá số --- không kèm trong bản chuyển đổi]

Các loại vận

Đại vận 10 năm:

Khoảng thời gian 10 năm của mỗi người, tương ứng với một cung trên lá số, xuất phát từ cung mệnh. Đại vận đi xuôi hoặc đi ngược tùy tuổi. Người tuổi dương nam, âm nữ thì thuận chiều kim đồng hồ; âm nam, dương nữ thì nghịch chiều kim đồng hồ. Người có số cục là thủy nhị cục bắt đầu từ số 2, rồi các cung tiếp theo là 12, 22, 32, 42, 52, 62, 72, 82, 92, 102, 112. Mộc tam cục thì bắt đầu từ số 3, kim tứ cục thì bắt đầu từ số 4, thổ ngũ cục bắt đầu từ số 5, hỏa lục cục bắt đầu từ số 6.

Đại vận cho biết kết cục, kết quả của 10 năm của mỗi người. Đi thuận thì gặp Phụ mẫu, Phúc đức, Điền trạch, Quan lộc, Nô bộc, Thiên di, Tật ách, Tài bạch, Tử tức, Phu quân, Thê thiếp, Huynh dệ; đi nghịch thì gặp Bào đệ, Phu quân, Thê thiếp, Tử tức, Tài bạch, Tật ách, Thiên di, Nô bộc, Quan lộc, Điền trạch, Phúc đứcvà Phụ mẫu.

Cung đại vận 10 năm phản ánh cả diễn biến và kết quả của mỗi người trong giai đoạn 10 năm khi so sánh tương quan với bố cục của lá số, với cung Mệnh của lá số.

Lưu niên đại vận

Lưu niên đại vận tức là năm nhiêu tuổi của mỗi người -- lấy năm xem vận trừ đi năm sinh rồi cộng thêm 1 tuổi thành tuổi xem vận (tức là tuổi mụ). Lưu niên đại vận -- là năm bao nhiêu tuổi biểu thị kết quả chính/cuối cùng của năm xem vận đó. Đây cũng là căn cứ để so sánh, đối chiếu sự khác biệt nhau giữa các năm xem vận, ví dụ như 12 năm trước và 12 năm sau đều giống nhau về tiểu vận (lưu Thái tuế và lưu tiểu vận) nhưng chỉ có khác nhau ở lưu niên đại vận -- chính là kết quả của năm.

Lưu Thiên can

Gồm có các sao lưu như: Lưu Lộc tồn, lưu Kình dương, lưu Đà la. Khi năm vận có can gì thì tra trên huyền đồ sẽ thấy can đó ở cung Địa chi tương ứng nào thì chính là lưu Lộc tồn ở cung đó.

Ngoài ra, lưu Thiên can còn gồm 4 sao lưu nữa là lưu tứ Hoá. Lưu tứ Hoá sẽ ứng với 4 sao tuỳ theo can năm xem vận là gì.

Xem xét lưu Lộc tồn và lưu tứ Hoá tương ứng với các cung nhân bàn nào của lá số thì các cung đó sẽ có kết quả sơ bộ của năm xem vận.

Lưu Thái tuế

Trong dân gian thì thần Thái tuế là thần cai quản một năm. Thái tuế là sao đứng đầu trong 12 sao thuộc vòng địa chi vì vậy lưu Thái tuế cũng chính là lưu Địa chi.

Trong xem vận theo Tử vi, thì lưu Thái tuế là xem cung địa chi cố định ứng với cung nhân bàn nào và là chủ đề của năm xem vận của mỗi người.

Ví dụ, năm Canh Tý là lưu Thái tuế tại cung Tý địa bàn nhưng với mỗi người lại là chủ đề khác nhau tùy thuộc vào tương ứng với cung nhân bàn nào như cung Mệnh, cung Phúc đứchoặc Phụ mẫu, Điền trạch, Quan lộc, Nô bộc, Thiên di, Tật ách, Tài bạch, Tử tức, Phu quân/Thê thiếp, hoặc Bào đệ.

Chủ đề của năm sẽ chi phối, ảnh hưởng đến mỗi người khác nhau, tùy thuộc vào cung lưu tiểu vận (diễn biến) và lưu niên đại vận (kết quả) của năm.

Lưu tiểu vận, vận năm

Năm xem vận được biểu hiện bằng can chi, ví dụ năm Canh Tý, cho biết diễn biến sự việc trong năm. Từ năm lưu tiểu vận tính ra các tháng trong năm, từ các tháng tính ra các ngày, từ các ngày tính ra các giờ muốn coi diễn biến, kết quả sự việc.

Lưu tiểu vận là các chi nằm ở xung quanh trong thiên bàn (Tý, Sửu,… Hợi), được bố trí theo nguyên tắc nam thì đi theo chiều thuận kim đồng hồ, nữ thì ngược chiều kim đồng hồ tùy mỗi tuổi.

Cách tính lưu tiểu vận cho các tuổi

TuổiCung tính tiểu vậnGhi chú (các năm tiếp theo đếm theo thứ tự)
Thân Tý ThìnTuất

Tuổi Thân thì ghi chữ Thân ở bên cạnh cung Tuất, nếu nam thì năm Dậu tiếp theo sẽ ở cung Hợi, nếu nữ thì năm Dậu sẽ ở cung Dậu.

Tuổi Tý thì ghi chữ Tý ở cung Tuất, nam thì năm Sửu ở cung Hợi, nữ thì năm Sửu ở cung Dậu.

Tuổi Thìn thì ghi chữ Thìn ở cung Tuất, nam thì năm Tị ở cung Hợi, nữ thì năm Tị ở cung Dậu.

Dần Ngọ TuấtThìn

Tuổi Dần thì ghi chữ Dần ở bên cạnh cung Thìn, nếu nam thì năm Mão tiếp theo sẽ ở cung Tị, nếu nữ thì năm Mão sẽ ở cung Mão.

Tuổi Ngọ thì ghi chữ Ngọ ở cung Thìn, nam thì năm Mùi ở cung Tị, nữ thì năm Mùi ở cung Mão.

Tuổi Tuất thì ghi chữ Tuất ở cung Thìn, nam thì năm Hợi ở cung Tị, nữ thì năm Hợi ở cung Mão.

Tị  Dậu SửuMùi

Tuổi Tị thì ghi chữ Tị ở bên cạnh cung Mùi, nếu nam thì năm Ngọ tiếp theo sẽ ở cung Thân, nếu nữ thì năm Ngọ sẽ ở cung Ngọ.

Tuổi Dậu thì ghi chữ Dậu ở cung Mùi, nam thì năm Thân ở cung Thân, nữ thì năm Thân ở cung Ngọ.

Tuổi Sửu thì ghi chữ Sửu ở cung Mùi, nam thì năm Dần ở cung Hợi, nữ thì năm Tị ở cung Dậu.

Hợi Mão MùiSửu

Tuổi Hợi thì ghi chữ Hợi ở bên cạnh cung Sửu, nếu nam thì năm Tý tiếp theo sẽ ở cung Dần, nếu nữ thì năm Tý tiếp theo sẽ ở cung Tý.

Tuổi Mão thì ghi chữ Mão ở cung Sửu, nam thì năm Thìn ở cung Dần, nữ thì năm Thìn ở cung Tý.

Tuổi Mùi thì ghi chữ Mùi ở cung Sửu, nam thì năm Thân ở cung Dần, nữ thì năm Thân ở cung Tý.

* Cách tính lưu tiểu vận cho các tuổi.*

Lưu vận tháng

Vận hàng tháng được tính theo lưu niên tiểu vận. Vận tháng hay lưu nguyệt vận thường tính theo âm lịch mô tả diễn biến, kết quả hàng tháng của mỗi người

Cách tính lưu nguyện vận, vận tháng: từ cung năm lưu niên tiểu vận tính là tháng 1 đếm ngược chiều kim đồng hồ cho đến tháng sinh âm lịch dừng lại, tính là giờ Tý rồi đếm thuận đến giờ sinh của mình, dừng lại đâu thì đó là tháng 1 của năm xem vận.

Ví dụ, tính vận cho người tuổi Tý, sinh tháng 3 âm lịch, giờ Thìn: cung lưu tiểu vận ở Tuất, tính cung Tuất là tháng 1, đếm ngược đến cung Dậu là tháng 2, cung Thân là tháng 3, dừng lại, tính cung Thân là giờ Tý, đếm thuận qua cung Dậu là giờ Sửu, cung Tuất là giờ Dần, cung Hợi là giờ Mão, cung Tý là giờ Thìn. Vậy là tháng 1 âm lịch năm Tý xem vận là ở cung Tý. Các phần mềm online đều lập trình sẵn vận hàng tháng cho mỗi lá số.

Lưu vận ngày, giờ

Xác định nhật vận, vận ngày của lá số: khi xác định được tháng ở đâu thì muốn xem tháng nào thì cứ ngày 1 tháng đó ở tại cung đó, đếm theo chiều kim đồng hồ là ngày 2, 3 cho đến hết tháng, do tháng có khoảng 29-30 ngày thì mỗi cung thường ứng với 2 ngày, một số cung thì có 3 ngày chung 1 cung lặp đi lặp lại, ví dụ, ngày 1, 13, 25 thì chung 1 cung cũng là tháng đó.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tử vi đẩu số tân biên -- Vân Đằng Thái Thứ Lang

Tử vi chỉ nam -- Song An Đỗ Văn Lưu

Tử vi ảo bí -- Việt Viêm Tử

Tử vi hàm số - Nguyễn Phát Lộc

Tử vi tổng hợp -- Nguyễn Phát Lộc

Tử vi khảo luận -- Hoàng Thường, Hàm Chương

Phú Tử vi -- Lê Quý Đôn

Tam mệnh thông hội -- Vạn Dân Anh

Tử vi đẩu số, nhận biết diện tướng và vận hạn -- Vũ Mê Linh

TỬ VI ĐẠI VIỆT NGHIỆM LÝ -- HUYỀN ĐỒ ĐỊNH THẾ THỜI VẬN

 PAGE   \* MERGEFORMAT 62